Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2017

Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc 1979: Khốc liệt Lạng Sơn - Cao Bằng


Theo công bố chính thức, Lạng Sơn đã loại khỏi vòng chiến 19.000 quân Trung Quốc, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 3 trung đoàn và 4 tiểu đoàn địch, phá hủy 76 xe tăng, thiết giáp, 52 xe quân sự.



19.000 quân địch đã phải bỏ mạng ở Lạng Sơn 
Trên hướng Tràng Định, Trung đoàn 199, Tiểu đoàn 6 Tràng Định, Đồn biên phòng Pò Mã, Bình Nghi… cùng dân quân Đội Cấn, Tri Phương, Quốc Khánh vừa bám đánh, ngăn chặn địch ở chốt Pò Mã, Pò Pùn, Lũng Xá, Khau Mười, Bản Tang… vừa tổ chức sơ tán hơn 10.000 đồng bào khỏi khu vực chiến sự. Ngày 25-2, trên hướng này quân Trung Quốc chiếm được thị trấn Thất Khê.
Trên hướng Lộc Bình, Trung đoàn 123, Tiểu đoàn 9 Lộc Bình. Đồn biên phòng Chi Ma cùng dân quân Tú Mịch, Yên Khoái… chiến đấu bảo vệ các điểm cao 540, 468, 557 (Chi Ma), khu vực Bản Thín, Bản Lan, điểm cao 412, 481, 402 (Tú Mịch), phản kích buộc địch phải co cụm lại ở phía nam núi Mẫu Sơn. Đến ngày 28-2 trên hướng này quân Trung Quốc chiếm được thị trấn Lộc Bình.
Trên hướng Đình Lập, Sư đoàn 338, Tiểu đoàn 131 Đình Lập, Đồn biên phòng Bắc Xa, Chi Lăng hiệp đồng với tự vệ các nông lâm trường… chặn đánh địch ở điểm cao 899 (Chè Mùng), 538 (Bản Chắt), 476, 549, mỏ than Na Dương… Đặc biệt, để chia lửa cho sư đoàn bạn, ngày 22-2 Sư đoàn 338 đã chủ động dùng Trung đoàn 460 tổ chức tiến công vào hậu phương của địch, loại khỏi vòng chiến 1 tiểu đoàn Trung Quốc và phá hủy toàn bộ khu doanh trại, hậu cần của chúng. Ngoài ra sư đoàn còn cho công binh luồn sâu 20km vào sau lưng địch đánh sập 2 cầu và dùng một bộ phận tinh nhuệ tập kích sân bay Ninh Minh (Quảng Tây).
Trên hướng Văn Lãng, một bộ phận của Trung đoàn 12 Sư đoàn 3, Tiểu đoàn 7 Văn Lãng, Đồn biên phòng Tân Thanh, Na Hình... đã phối hợp phòng ngự có hiệu quả ở Nà Nôi, Bản Thấu (Tân Yên), Thụy Hùng… buộc địch phải tạm dừng tiến công trong ngày 17-2.
Trên hướng Cao Lộc, Tiểu đoàn 8 Cao Lộc, Đồn biên phòng Thanh Lòa, Ba Sơn cùng một bộ phận Trung đoàn 141 Sư đoàn 3 chặn địch ở điểm cao 499 (Xuất Lễ), trên hướng Bản Xâm, Thanh Lòa...
Đặc biệt, tại hướng trọng điểm Đồng Đăng, từ sáng 17-2 cuộc chiến đấu ác liệt diễn ra liên tục xung quanh thị trấn Đồng Đăng (cách thị xã Lạng Sơn 14km) và ngã ba Tam Lung (cách thị xã Lạng Sơn 7km) với các điểm nóng ở khu vực cửa khẩu Hữu Nghị và điểm cao 402, cụm chốt Thâm Mô-Pháo đài-điểm cao 339, ga Đồng Đăng, khu đồi Chậu Cảnh, điểm cao Khôn Làng…. Mặc dù bị tổn thất, các đơn vị hỗn hợp của Sư đoàn 3, Trung đoàn 12 Thanh Xuyên, Tiểu đoàn 11 bộ đội địa phương thị xã, Tiểu đoàn 1 cảnh sát cơ động, Đại đội 5 công an vũ trang, Đồn biên phòng Hữu Nghị Quan... cùng dân quân tự vệ tại chỗ đã kiên cường bám trụ trận địa, đồng thời tổ chức tiến công giành giật lại các vị trí bị chiếm đóng, gây cho đối phương những thiệt hại hết sức nặng nề.
Sư đoàn 3 phản kích địch ở ngã ba Tam Lung, Lạng Sơn
Bị giam chân suốt nhiều ngày, đến ngày 22-2, quân Trung Quốc tăng cường lực lượng mở một đợt tiến công mới vào Tân Yên, Đồng Đăng. Nhờ ưu thế vượt trội về binh hỏa lực, sau hàng loạt trận đánh liên tục, đến ngày 23-2-1979, địch chiếm được khu vực Tân Yên, Đồng Đăng. Đến ngày 27-2 chiếm được khu vực Tam Lung.
Ngày 24-2-1979, Quân khu 1 quyết định thành lập Mặt trận Lạng Sơn, Thiếu tướng Hoàng Đan, Phó giám đốc Học viện quân sự cấp cao được điều về giữ chức Phó tư lệnh Quân khu kiêm Tư lệnh Mặt trận. Đồng thời, 2 sư đoàn chủ lực cùng nhiều tiểu đoàn bộ binh, binh chủng và dân quân tự vệ ở tuyến sau được điều động lên chi viện cho tiền tuyến.
Từ ngày 23-2, sau khi tiến hành sơ tán các cơ quan và nhân dân trong thị xã Lạng Sơn, đội hình phòng thủ của ta được điều chỉnh lại: Sư đoàn bộ binh 3 và Trung đoàn 197 Bắc Thái mới tăng cường đảm nhiệm phòng ngự khu vực phía tây và tây nam thị xã; Sư đoàn bộ binh 327, Trung đoàn xe tăng 407 và các đơn vị của BCHQS tỉnh đảm nhiệm khu vực phía bắc và đông thị xã; Trung đoàn phòng không 272 bố trí ở cả phía bắc và nam thị xã, vừa chi viện bộ binh chiến đấu vừa sẵn sàng đánh trả máy bay địch.
Từ ngày 28-2, cuộc chiến đấu trên mặt trận Lạng Sơn bước sang một giai đoạn cam go mới. Phía Trung Quốc huy động thêm bộ binh, xe tăng, pháo binh mở cuộc tiến công quy mô lớn trên cả ba hướng đông, bắc và tây nhằm đánh chiếm thị xã. Lực lượng vũ trang ta tổ chức kháng cự quyết liệt. Các trận đánh phòng ngự, tập kích và phản kích dữ dội diễn ra trên các trục đường 1A, 1B, Bản Sâm, Cao Lộc vào thị xã, khu vực Tam Thanh, Nhị Thanh, Hoàng Đồng, Mai Pha và thị trấn Kỳ Lừa… Ở phía sau, Sư đoàn 337 lên tăng cường từ chiều 25-2 cũng bước vào chiến đấu với mũi vu hồi chiến dịch của địch trên hướng cầu Khánh Khê, đường 1B. Chiến sự diễn ra vô cùng căng thẳng, có những nơi như điểm cao 500, 607, 649 (đường 1B), 449, 473 (Cao Lộc)… hai bên liên tục giành đi giật lại nhiều lần.
Ngày 2-3, Quân đoàn 5 trực thuộc Quân khu 1 do Thiếu tướng Hoàng Đan làm tư lệnh và Đại tá Phí Triệu Hàm làm chính ủy được thành lập. Các sư đoàn bộ binh đang chiến đấu bảo vệ Lạng Sơn (3, 327, 337, 338) cùng các trung đoàn binh chủng của Quân khu 1 được đặt dưới quyền chỉ huy chung của Bộ tư lệnh Quân đoàn.
Chiều tối cùng ngày hôm đó, quân Trung Quốc chiếm được thị trấn Kỳ Lừa, các đơn vị của ta rút về nam sông Kỳ Cùng. Bộ tư lệnh Quân đoàn 5 quyết định điều Sư đoàn 3 về làm lực lượng dự bị, riêng Trung đoàn 12 Sư đoàn 3 tiếp tục bám trụ trên đường 1B đánh vào sau lưng địch, phối hợp với Sư đoàn 337 kiên quyết chốt chặn tuyến giao thông này, không cho địch vượt qua cầu Khánh Khê tiến sang thị xã và huyện Văn Quan.
Ngày 3-3, đối phương tiếp tục tung thêm lực lượng vào tiến công. Trên hướng chính, địch tổ chức 3 mũi đột kích từ điểm cao 520, Hoàng Đồng và Kỳ Lừa. Trên hướng Mai Pha địch cũng tổ chức 2 mũi đánh từ phía bắc sông Kỳ Cùng và đông nam thị xã. Đến chiều 4-3, trên hướng đông-đông nam quân Trung Quốc chiếm được khu vực nam sông Kỳ Cùng, sân bay Mai Pha và các khu phố trong thị xã Lạng Sơn.
Tối 4-3, Bộ tư lệnh Quân đoàn 5 thông qua và bắt đầu triển khai phương án mở chiến dịch phản công. Cùng thời điểm này lực lượng tăng cường của Quân đoàn 1 cũng đã hoàn tất triển khai vào vị trí chiến đấu trên tuyến Chi Lăng-Đồng Mỏ-Hữu Kiên phía nam thị xã. Trung đoàn pháo binh 204 với 36 dàn hỏa tiễn bắn loạt 40 nòng BM-21 đã tập kết và lấy phần tử sẵn sàng khai hỏa. Ngày 5-3, giữa lúc các sư đoàn trên mặt trận đang ráo riết chuẩn bị thì trưa hôm đó, nhà cầm quyền Bắc Kinh tuyên bố rút quân khỏi Việt Nam và ngày hôm sau quân Trung Quốc rút về phía bắc sông Kỳ Cùng. Bộ Quốc phòng quyết định cho dừng chiến dịch phản công. 
Từ ngày 6-3, lực lượng vũ trang ta tiếp tục tiến đánh những bộ phận địch còn chiếm đóng trên lãnh thổ Việt Nam, buộc đối phương phải rút khỏi Cao Lộc (9-3), Lộc Bình (13-3), Đồng Đăng, Tân Thanh (15-3)… về bên kia biên giới.
Theo công bố chính thức, Lạng Sơn đã loại khỏi vòng chiến 19.000 quân Trung Quốc, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 3 trung đoàn và 4 tiểu đoàn địch, phá hủy 76 xe tăng, thiết giáp, 52 xe quân sự. Để lập nên chiến công này, quân dân Lạng Sơn cũng đã phải chịu hy sinh to lớn: Sư đoàn 3 hy sinh 6,6% và bị thương 8,4% quân số; Sư đoàn 337 hy sinh 650 cán bộ chiến sĩ, Sư đoàn 338 hy sinh 260 cán bộ chiến sĩ… 20 cá nhân và 14 đơn vị được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân, Quân đoàn 5 được mang danh hiệu “Binh đoàn Chi Lăng”, Sư đoàn 337 được tặng danh hiệu “Sư đoàn Khánh Khê”.
​Trên mặt trận Cao Bằng
Ở Cao Bằng, hướng tiến công chính của địch ở Thông Nông-Hà Quảng và Phục Hòa-Đông Khê. Nhờ huy động một lực lượng áp đảo nên ngay từ những ngày đầu đối phương đã có nhiều mũi tiến khá sâu vào lãnh thổ Việt Nam, chia cắt và gây rối loạn hệ thống chỉ huy của ta.
Xe tăng Trung Quốc bị Sư đoàn 346 tiêu diệt ở Bản Sẩy, Hòa An, Cao Bằng sáng 18-2-1979
Trên hướng Hà Quảng, cuộc chiến đấu của Trung đoàn 246 Sư đoàn 346, Tiểu đoàn 6 Hà Quảng, Đồn biên phòng Sóc Giang, Nậm Nhũng… cùng bộ đội địa phương và dân quân tự vệ diễn ra suốt 4 ngày liền từ 17-2 đến 20-2 trên các chốt Cốc Ngựu, Cốc Nhu, Cốc Vường, điểm cao 505, Trúc Long-Địa Lan, Nà Xác, Trường Hà… chặn đứng hướng tiến công rất mạnh của địch ở khu vực cửa khẩu Sóc Giang. Bị tổn thất không tiến lên được, ngày 22-2 quân Trung Quốc làm đường cho xe tăng vượt biên giới ở khu vực mốc 109, theo đường Pác Bó-Nà Mạ-Đôn Chương đánh vu hồi vào sau lưng và bên sườn trận địa ta, kết hợp với tấn công chính diện theo hướng cửa khẩu Bình Mãng-Sóc Giang. Trung đoàn 246 mặc dù chiến đấu dũng cảm nhưng bị bao vây và cắt đường tiếp tế, trước sức ép của địch phải rút khỏi Sóc Giang lên khu vực thung lũng núi giữa Hà Quảng và Thông Nông tiến hành đánh du kích. Địch chiếm được Sóc Giang và tiếp tục phát triển xuống phía nam Hà Quảng.
Trên hướng Trà Lĩnh, Trung đoàn 677 Sư đoàn 346 bảo vệ hướng phòng ngự chủ yếu của sư đoàn phối hợp với Đồn biên phòng Trà Lĩnh và các đơn vị địa phương kiên cường đánh địch ở bình độ 700, đồi Quyết Tử, đồi Thanh Niên, điểm cao 800 và 815 (Phai Can), khu vực mỏ mangan, trục đường Xuân Nội-Quang Trung… đánh bại các đợt tiến công của địch trong nhiều ngày. Tuy nhiên ngày 26-2 địch chiếm điểm cao 815 lần thứ hai. Trung đoàn 677 phải lui về phía sau, phân tán cùng dân quân các bản làng tiếp tục chiến đấu. 
Trên hướng Quảng Hòa, Trung đoàn 567 cùng Đồn biên phòng Tà Lùng, tự vệ nông trường và dân quân Đại Tiến, Cách Linh… giữ vững trận địa chốt chặn ở khu vực đèo Khâu Chỉa (Phục Hòa) suốt 12 ngày đêm, có những ngày đẩy lui 7-8 đợt tiến công gây thiệt hại nặng cho địch, không để đối phương dùng khu vực này làm bàn đạp tiến về hướng Quảng Uyên, Mã Phục.
Trên hướng Trùng Khánh, Hạ Lang, Bảo Lạc địch cũng tấn công các đồn biên phòng Pò Peo, Bí Hà, Lý Vạn, Cốc Pàng, Nậm Quét… cùng một số chốt của lực lượng địa phương.
Trên hướng Thông Nông và Thạch An, do phòng ngự của ta sơ hở, quân Trung Quốc nhanh chóng chiếm được thị trấn Thông Nông và Đông Khê rồi dùng xe tăng tiến thẳng về thị xã Cao Bằng. Sáng 17-2, nhân viên bưu điện huyện Thạch An báo cáo về tỉnh, cho biết xe tăng địch cắm cờ Việt Nam đi qua trước cửa nhà bưu điện về hướng thị xã. Được tin này, Tư lệnh Quân khu 1 lập tức ra lệnh cho BCHQS tỉnh và Sư đoàn 346 tổ chức đưa lực lượng đến đèo Ngườm Kim, Nậm Nàng chặn đánh. Chấp hành mệnh lệnh trên, một bộ phận Trung đoàn 851 Sư đoàn 346 khẩn trương cơ động và trong các ngày 18 và 19-2 liên tục chiến đấu với mũi tiến công cơ giới của địch trên đường số 4 và đường từ Nước Hai về thị xã, bắn cháy hàng chục xe tăng ở khu vực Bản Sẩy, Đức Long (Hòa An), cây số 9-12 trên đường số 4… Chiếc xe tăng trinh sát của Trung Quốc đến được Nà Toòng ngoại vi thị xã cũng bị đơn vị cao xạ 37mm của Sư đoàn 346 tiêu diệt.
Từ ngày 19-2, địch bắt đầu áp sát thị xã Cao Bằng từ nhiều hướng. Cuộc chiến đấu bảo vệ thị xã diễn ra suốt nhiều ngày nhưng do tương quan chênh lệch, đến ngày 24-2 đối phương chiếm được thị xã Cao Bằng và có những mũi vu hồi đánh lấn xuống khu vực đường số 3, Khâu Đồn, đèo Cao Bắc, có những mũi thọc sâu vào lãnh thổ Việt Nam 50-60km (cầu Tài Hồ Sìn). Nhiều đơn vị của ta bị tổn thất, rơi vào thế bị chia cắt, bao vây cả 4 mặt.
Ngày 26- 2-1979, Quân khu 1 quyết định thành lập Bộ tư lệnh Mặt trận Cao Bằng do Đại tá Đàm Văn Ngụy, Phó tư lệnh Quân khu đứng đầu. Ngày 28-2, Bộ tư lệnh Mặt trận ra lệnh cho Trung đoàn 677 và Trung đoàn 567 vượt vòng vây rút về phía sau để bảo toàn lực lượng, chuẩn bị đánh phản kích.
Trước tình hình căng thẳng, Quân khu 1 gấp rút điều động Trung đoàn 852 và 183, tiểu đoàn pháo tầm xa 122mm của Lữ đoàn 675, các tiểu đoàn bộ đội và tự vệ phía sau lên phối hợp với các đơn vị tại chỗ tổ chức phòng tuyến mới ở phía nam cầu Tài Hồ Sìn, đường số 3, mỏ thiếc Tĩnh Túc… Lực lượng vũ trang ta đánh lui các đợt tiến công của quân Trung Quốc từ 20 đến 23-3, sau đó phản kích đẩy địch về khu vực cây số 5 và ngã ba Khâu Đồn, đồng thời bao vây một bộ phận mũi vu hồi của địch ở Nguyên Bình.
Ngày 1-3-1979 trên mặt trận Cao Bằng, Sư đoàn bộ binh 311 gồm Trung đoàn bộ binh 169, 529, 531 bộ binh và Trung đoàn pháo binh 456 được thành lập. Tuyến phòng ngự thứ hai được hình thành từ Tài Hồ Sìn đến Ngân Sơn. Chiến sự diễn ra quyết liệt trên khắp địa bàn tỉnh. Sư đoàn 311 tổ chức cắt đường số 4, ngăn chặn cơ động tiếp tế của đối phương. Các tiểu đoàn đặc công 20 và 45 luồn sâu vào sau lưng địch, phối hợp với dân quân tự vệ tổ chức nhiều cuộc tập kích, phục kích gây cho quân xâm lược những thiệt hại nặng nề.
Tiểu đoàn đặc công 45 cơ động tập kích địch trên mặt trận Cao Bằng.
Hai ngày sau khi Bắc Kinh tuyên bố rút quân, ngày 7-3 quân Trung Quốc bắt đầu rút khỏi Thông Nông, Trà Lĩnh, vừa đi vừa tàn phá các khu vực nằm trên đường di chuyển của chúng. Trước tình hình trên, cùng ngày hôm đó Bộ tư lệnh mặt trận hạ lệnh chuyển sang phản kích, dùng pháo binh bắn phá đội hình hành quân, các điểm tập kết người và xe cơ giới của địch... Trước áp lực tiến công của ta, nhiều đơn vị Trung Quốc vội vã rút chạy bỏ lại cả xe cộ, vũ khí và thương binh tử sĩ. Ngày 14-3, ở Minh Tâm (Nguyên Bình), một đại đội chủ lực địch bị lực lượng địa phương của ta vây hãm đã phải hạ súng đầu hàng vô điều kiện.
Ngày 15-3, quân Trung Quốc rút khỏi thị xã và huyện Hòa An; ngày 16-3 rút khỏi Trùng Khánh, Quảng Hòa và Thạch An; ngày 17-3 rút khỏi Trà Lĩnh; ngày 18-3 rút khỏi Hà Quảng và Thông Nông. Đến đây, chiến sự trên mặt trận Cao Bằng tạm thời lắng xuống. Theo công bố chính thức, trong một tháng chiến đấu trên hướng này các lực lượng vũ trang và nhân dân Cao Bằng đã loại khỏi vòng chiến 18.000 quân Trung Quốc, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 7 tiểu đoàn địch, phá hủy 134 xe tăng, thiết giáp và 23 xe quân sự, giữ kỷ lục về số xe tăng, thiết giáp tiêu diệt được và số tù binh bắt sống. Với thành tích chiến đấu, 5 cá nhân và 17 đơn vị đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân. Sư đoàn 311 được mang danh hiệu “Sư đoàn Đông Khê”; Trung đoàn 567 được nhân dân địa phương tặng danh hiệu “Trung đoàn Khâu Chỉa”, “Trung đoàn Phục Hòa”.
                                         
                                           Sưu tầm



Ký ức 17/2/1979: Cao Bằng tan hoang, và những cuộc thảm sát hèn hạ của lính Trung Quốc


Nước mắt tháng 2Giờ hòa bình trở lại, hận thù đã cởi bỏ, họ chỉ mong một cuộc sống yên ổn, không bao giờ tái diễn một sự việc đau buồn như 38 năm trước nữa.

Suốt 38 năm nay, cứ đến sáng ngày 17/2, ông Nông Văn Bàn ở xã Đức Long (Hòa An, Cao Bằng) lại mang chai rượu, ít hoa quả, sang vách núi cách nhà mình không xa lắm, đặt xuống và ngồi lặng lẽ.
Chỗ đấy giờ chỉ còn là đám lách um tùm. Nhưng 38 năm trước, đó là tổ ấm của cả gia đình ông bao gồm cả bố mẹ, các em. Buổi sáng định mệnh ấy đã lấy đi tất cả, chỉ còn mỗi mình ông trơ trọi.
“Năm đó, tôi đi bộ đội đóng ở Quảng Ninh, chỉ nghe là sáng 17/2/1979, quân Trung Quốc ồ ạt đánh qua cửa khẩu Đức Long, biết rằng nhà mình nằm trong vòng vây của giặc, nhưng làm sao tôi có thể mọc cánh mà bay về được”, ông Bàn nghẹn ngào.
Lúc tìm về, thì ngôi nhà cũ chỉ còn là đống gạch vụn vỡ nát. Hỏi thì ông Bàn mới biết, chỉ mới ngay loạt pháo đầu tiên của quân Trung Quốc bắn sang , viên đạn đã trúng căn nhà ông, không ai thoát chết.
Xã Đức Long vốn nằm ngay sát biên giới Việt Trung, nên khi quân Tàu bất ngờ tràn qua, chỉ có mấy người kịp chạy. Lúc chúng rút đi hết, những ai còn sống sót tìm về thì thấy làng bản gần như chả còn gì. Lính Trung Quốc đánh sang Việt Nam đã dùng chính sách "3 diệt" để khủng bố, đó là giết những cán bộ nhà nước, những người già, trẻ em không kịp chạy trốn, hay thả thuốc độc xuống nguồn nước. Mục đích của chúng là không để cho bất cứ ai có thể quay trở về biên giới sinh sống như trước.
Chỉ có một mó nước cuối bản là không bị bỏ thuốc độc, nhưng cũng bị quân xâm lược đẩy cái cối giã gạo bằng đá to lăn xuống đè ngay mạch nước nguồn. Đợt ấy, ông Bàn cùng với những người còn sống sót quay trở về, dùng xà beng hì hục cạy mãi cái cối đá mới hở ra chút. Nước chảy, nhưng có mùi lạ, mọi người mới kinh hoàng phát hiện dưới cái cối xay có một xác người. Có lẽ, gặp lúc hết thuốc độc để rải xuống khi phát hiện cái mó nước, nên chúng đã tiêu diệt nguồn nước của dân bản bằng cái phương pháp ghê rợn ấy.
Ky uc 17/2/1979: Cao Bang tan hoang, va nhung cuoc tham sat hen ha cua linh Trung Quoc
Mó nước nơi xảy ra câu chuyện kinh dị năm xưa
Tổng Chúp (xã Hưng Đạo, TP. Cao Bằng), giờ là khu vực rậm rạp, không có đường vào, phải băng qua 2 con suối cùng vô số lau lách, hoang vắng lắm. Thế mà cứ vào những ngày này tháng 2, lại có một người đàn ông thỉnh thoảng tìm đến, ngồi thẫn thờ trước tấm bia rêu phong đề dòng chữ: “Vụ thảm sát tại Tổng Chúp, xã Hưng Đạo huyện Hòa An. Quân Trung Quốc xâm lược dùng cọc tre, búa bổ củi đập chết 43 phụ nữ và trẻ em quăng xuống giếng nước”.
38 năm trước, mẹ của ông Đinh Ngọc Tinh (khu Đức Chính, xã Hưng Đạo) cũng hòa lẫn trong đám người chạy loạn khi quân Trung Quốc đánh tới thành phố Cao Bằng. Bà tên Tô Thị Yến. Bà Yến chạy cùng với nhóm công nhân trại lợn Đức Chính. Nhưng nghe kể lại là chạy đến cây số 5 thì đã gặp phải tốp lính Tàu. Chúng không bắn mà trói nghiến tất cả lại, giải về Tổng Chúp.
Hết chiến tranh, ông Tinh trở về thì mới hay mẹ mình là nạn nhân đầu tiên của vụ thảm sát khủng khiếp 43 người đó. Bà Yến được vớt lên khỏi giếng cổ trong tình trạng bị bịt mắt, trói tay, bị gậy tre quân bành trướng đập thẳng vào đầu.
Ky uc 17/2/1979: Cao Bang tan hoang, va nhung cuoc tham sat hen ha cua linh Trung Quoc
Ông Đinh Ngọc Tinh bên bia thảm sát Tổng Chúp
Cũng những ngày tháng 2 năm 1979, bà Nông Thị Dén ở thị trấn Đông Khê (Thạch An, Cao Bằng) chỉ biết ôm lấy đứa con cắm đầu cắm cổ chạy loạn khi pháo Trung Quốc cứ câu sang “như bom Mỹ rải thảm”, rồi lính Tàu tràn ngập thị trấn. Đêm đến, dù đói khát, rét mướt và lo sợ , mọi người vẫn trốn, bấm tay nhau ra hiệu đi thật khẽ, cố tìm đường đi sâu vào nội địa. Đúng lúc đấy thì đứa con trai mới 2 tháng tuổi lại ọ ọe, bà Dén loay hoay tìm mọi cách để nó không khóc nữa, nhưng đành chịu.
ừ trong bản gần đó, quân Trung Quốc có vẻ như nge thấy tiếng trẻ con khóc, chúng ngừng nói để nghe ngóng. Hết cách, bà Dén đành bịt chặt mồm và mũi của thằng bé để nó không phát ra tiếng kêu nữa. Thằng bé dãy dụa, bà cố ôm chặt con và đi thật nhanh để vượt qua bản với hy vọng con mình không bị ngạt. Qua được bản thì đứa bé đã nhũn, nó mới được 2 tháng tuổi làm sao chịu đựng được. Trong đêm tối, bà Dén ôm chặt lấy con mà không nấc lên được tiếng nào, đoàn người vẫn lặng lẽ bước đi. Một ngôi mộ cỏn con được đắp vội bên đường.
Bà Dén cứ điên điên dại dại, mãi sau này người nhà chạy chữa, bà mới tỉnh lại được, nhưng lúc nào cũng u uất.
Ký ức hãi hùng
“Tại sao lại có chiến tranh, chúng tôi chỉ là dân thôi mà, sao họ lại giết chóc như thế?”, với bà Nông Thị Nương (Trùng Khánh, Cao Bằng),17/2 năm đó, lúc Trung Quốc bắn pháo sang, bà mới 15 tuổi, nhờ chạy vào khu rừng gần đó nên thoát chết. Nhà cửa, đồ đạc vẫn còn để nguyên như vậy, trong chuồng lợn gà vẫn ủn ỉn, chú chó và con mèo vẫn nằm trông nhà mà không biết là sẽ phải xa chủ mãi mãi.
Lúc về tới thành phố Cao Bằng, mọi người cứ tưởng bình yên nên tụ tập lại, bàn tính sẽ kéo về Bắc Kạn lánh nạn, chờ tình hình yên ổn mới trở về nhà. Ai ngờ đoàn người mới đi được một quãng thì lại rơi vào bẫy phục kích. Lính tàu cứ thế lia thẳng đạn vào đám đông, kèm theo những thi thể đổ gục xuống như cây chuối. Tất cả bỗng chốc tán loạn, bà Nương cắm đầu cắm cổ chạy cho đến khi người thân trong gia đình không còn ai bên cạnh mình.
Ky uc 17/2/1979: Cao Bang tan hoang, va nhung cuoc tham sat hen ha cua linh Trung QuocKy uc 17/2/1979: Cao Bang tan hoang, va nhung cuoc tham sat hen ha cua linh Trung Quoc
Cao Bằng bị tàn phá Ảnh tư liệu
Bà sống sót nhờ chui sâu vào trong hang đá chỗ đèo Tài Hồ Sìn. Ngày ngồi im trong hang, đêm mò ra hái lá rừng, đào củ sắn, củ mài. Mãi cho đến khi nghe quân Trung Quốc rút, bà mới tìm về, thì bản làng của bà chỉ còn là đống ngổn ngang, vết cháy xém cùng xác người vương vãi khắp nơi.
Và còn nhiều trường hợp như và Nương nữa. Với những người đã trải qua ký ức kinh hoàng 38 năm trước, thì ký ức ngày 17/2/1979, chiến tranh đồng nghĩa với tàn phá, với đau thương mất mát, là cảnh lính Tàu tràn vào và đốt hết, giết hết, sạch sẽ từng ngôi nhà. Chúng ốp mìn nổ tung từng cột điện, rồi sục sạo khắp nơi. Những xác người cháy đen, những tiếng khóc la ai oán vang lên khắp nơi. Giờ hòa bình trở lại, hận thù đã cởi bỏ, họ chỉ mong một cuộc sống yên ổn, không bao giờ tái diễn một sự việc đau buồn như thế nữa.
“Ngày 5/3, Bắc Kinh tuyên bố đã thực hiện được mục tiêu ban đầu đề ra và rút quân. Vậy mục tiêu ban đầu của chúng là gì? Nếu ngon ăn thì tại sao không thể tiến qua nổi đèo Tài Hồ Sìn, thẳng xuống hướng nam luôn?”, ông Nguyễn Văn Dịch, năm nay đã 80 tuổi (xã Hưng Đạo, TP. Cao Bằng), tự đặt câu hỏi.
Lúc quân Trung Quốc sang xâm lược, ông Dịch cũng là dân quân, nhưng súng đạn chả có nhiều, chỉ biết đánh du kích, may mắn thần kỳ mới giúp ông thoát chết và chứng kiến những tội ác khủng khiếp ấy. Ông Dịch vẫn luôn chờ mong sự xuất hiện của bộ đội chính quy Việt Nam.
Ky uc 17/2/1979: Cao Bang tan hoang, va nhung cuoc tham sat hen ha cua linh Trung Quoc
Ông Nguyễn Văn Dịch : "Trung Quốc đã phải bỏ chạy khi biết ta đem quân tinh nhuệ lên hướng Bắc"
Cho đến lúc hết sạch cả súng đạn, quân Trung Quốc tràn ngập Cao Bằng, đông như kiến cỏ, không còn cách nào khác, ông Dịch mới tìm đường chạy về Bắc Kạn. Đầu tháng 3, ông cùng những người chạy loạn mới lần đầu tiên được thấy bộ đội chính quy “xịn” hành quân ra chiến trường, lên thẳng hướng bắc.
“Thật hùng dũng, anh nào anh nấy trông thật phong sương từng trải, áo rằn ri, súng đạn đeo đầy người… rồi từng đoàn xe kéo pháo chạy qua mà cách xa hàng mấy km đã nghe tiếng gầm của chiến xa kéo pháo. Tôi cũng mang máng thấy nói là kéo cả pháo 175mm và pháo 105mm, rồi xe tăng chạy trực tiếp lên tuyến trên, xích sắt nghiền nát cả mặt đường... Lúc đó mọi người đều khẳng định, bọn Tàu biết ta đem quân tinh nhuệ vừa đánh cho Pôn Pốt phải chạy re kèn sang Thái Lan, ra Bắc để quyết dạy lại cho chúng một bài học, nên phải vội vã ra lệnh rút quân, chứ không thì còn nhiều ma bành trướng phải vơ vẩn trên đất Việt Nam nữa”, ông Dịch tâm sự.
Quân Trung Quốc rút, Cao Bằng chẳng còn lại gì ngoài những đống đổ nát. Chiến tranh đã qua, cuộc sống mới có nhiều thay đổi, đã yên bình được 38 năm. Ở mảnh đất phên dậu này, có những con người mới chuyển đến. Có thể họ không biết hay không còn nhớ nhiều đến những ngày kinh hoàng 38 năm trước.
Nhưng khi chúng tôi đi dọc miền biên viễn này, vẫn không thiếu những cơn đau, những tiếng thở dài hay những giọt nước mắt khi nhắc đến ký ức tháng 2. Có những căn nhà nhỏ chưa bao giờ có được bữa cơm trọn vẹn.
Chiến tranh đã lùi xa từ lâu, 38 năm nhưng nỗi đau vẫn còn đó…
Sưu tầm (theo VTC)

Chuyện chưa kể về 12 ngày đêm quyết tử với quân Trung Quốc giữa đèo Khau Chỉa

 Bên hướng Thạch An và hướng Thông Nông, quân Trung Quốc tràn qua được và đánh tới thị xã Cao Bằng, nhưng ở hướng Tà Lùng, chúng đã vấp phải bức tường bằng sắt, không thể tiến thêm bước nào nữa.
Những ngày này 38 năm về trước, hơn 60 vạn quân xâm lược Trung Quốc đã bất ngờ tấn công trên toàn tuyến biên giới phía Bắc nước ta với chiêu bài “dạy cho Việt Nam một bài học” theo lời Đặng Tiểu Bình. Quân xâm lược không ngờ được rằng, tuy bị bất ngờ, nhưng với truyền thống quật cường, quả cảm, quân dân ta trên 6 tỉnh biên giới đã giáng trả bọn cướp nước những đòn chí mạng.
Ở Cao Bằng, hướng tiến công chính của quân Trung Quốc theo 2 ngả Thông Nông – Hà Quảng và Phục Hòa – Đông Khê. Huy động lực lượng kiểu lấy thịt đè người nên ngay từ những ngày đầu đối phương đã có nhiều mũi tiến khá sâu vào lãnh thổ Việt Nam. Ngày 19/2, quân Trung Quốc đã áp sát thị xã Cao Bằng .
Tuy nhiên, ở một địa điểm cách cửa khẩu Tà Lùng 15km theo QL3 ngược ra, đó là đèo Khau Chỉa, thuộc địa phận thị trấn Hòa Thuận (Phục Hòa, Cao Bằng), ngày 17/2/1979, quân Trung quốc đã tấn công theo hướng này cỡ gần quân đoàn với rất nhiều xe tăng.
Sau khi nhanh chóng chiếm được cửa khẩu và thị trấn Phục Hòa, chúng tiếp tục đánh về hướng thị xã để hợp với cánh quân đánh Trà Lĩnh kéo ra tại đỉnh đèo Mã Phục theo kế hoạch định sẵn. Thế nhưng, đến đèo Khau Chỉa thì quân Trung Quốc đã bị chặn lại bởi Trung đoàn 567 cùng dân quân Cao Bằng. Lính Trung Quốc được hỗ trợ bởi xe tăng, pháo binh... trong suốt cuộc chiến nhưng không vượt nổi qua con đèo, mặc dù đơn vị này bị cô lập hoàn toàn và chiến đấu độc lập.





11

 Một góc đèo Khau Chỉa


Ở đèo Khau Chỉa, gần như không còn bất cứ một dấu tích nào của cuộc chiến năm xưa. Hỏi những người dân xung quanh thì được biết thời gian đó họ chạy loạn hết, khi biết tin Trung Quốc đánh vào. Chẳng ai được chứng kiến 12 ngày đêm khốc liệt ấy.
Cũng thật may mắn, trong chuyến đi tìm những nhân chứng của cuộc chiến năm xưa tại xã Hưng Đạo, TP. Cao Bằng, chúng tôi được gặp ông Đinh Ngọc Phong, một cựu binh của Trung đoàn 567 từng chiến đấu tại đèo Khau Chỉa trong trận đánh 38 năm về trước.
Năm nay ông Phong đã 60 tuổi. Ông đã ra quân và vui thú với cuộc sống điền viên. Nhắc lại những kỷ niệm cũ, ánh mắt người cựu binh này lại rạng rỡ. Với ông, đó là những kỷ niệm không bao giờ quên trong suốt cuộc đời binh nghiệp của mình.
Đơn vị của ông Phong được thành lập năm 1976 ở Hà Bắc. Ông thuộc Đại đội 7, Tiểu đoàn 2. Sau một thời gian huấn luyện, ông Phong cùng đồng đội nhận lệnh hành quân lên đóng chôt trên biên giới Cao Bằng.
Trung đoàn 567 vốn là trung đoàn bộ binh, sau có thêm sự hỗ trợ của một tiểu đoàn pháo mặt đất thuộc tỉnh đội. Thời điểm xảy ra chiến tranh ngày 17/2/1979,  đơn vị của ông đang đóng quân cách biên giới tầm 20km, ngay chân đèo Khau Chỉa.





IMG_7491

 Cựu binh Đinh Ngọc Phong


Trước đó là những ngày nóng bỏng. Khu vực biên giới trở nên cực kỳ phức tạp. Phía Trung Quốc giở đủ các biện pháp phá hoại. Người Trung Quốc thường xuyên tìm cách lén vượt biên sang các làng bản bên Việt Nam, kích động lôi kéo bà con các dân tộc thiểu số làm nội gián.
Chúng còn cho một số bộ đội biên phòng phía bên kia giả làm bọn đầu trộm đuôi cướp, phục kích những chỗ mà cán bộ ta hay đi lại để bắt cóc đem về khai thác gây hoang mang dư luận. Đêm khuya chúng di chuyển cột mốc, chặn cả suối cho dòng chảy chuyển sang hướng khác…
“Từ năm 1978, chúng tôi đã chuyển sang trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Tuy nhiên, cũng không thể đoán được là quân Trung Quốc có gây chiến với mình hay không, gây chiến lúc nào, mặc dù hàng đêm, chúng tôi thỉnh thoảng vẫn nghe thấy những tiếng nổ ì ầm ngay sát biên giới”, người cựu binh tâm sự.
Về sau, mọi người mới biết, ngay từ đêm 16/2, các tổ thám báo của Trung Quốc đã bí mật mang theo bộc phá luồn sâu, móc nối với những thành phần nội gián, thành lập các toán vũ trang phục sẵn các ngã ba đường, bờ suối, các cây cầu nhằm ngăn chặn quân Việt Nam. Đồng thời, chúng cũng bí mật cắt đường dây điện thoại để cô lập chỉ huy sư đoàn với các chốt, trận địa pháo của bộ đội ngay sát biên giới.
Mấy hôm sau, có người chạy loạn kể lại, sau khi vượt qua biên giới, lính Trung Quốc đã đào lên mấy cái hầm bí mật khá to, chứa rất nhiều súng đạn, quân trang. Theo một người dân, chúng đã đào và chôn cất ở đây khá lâu, chứng tỏ đã có âm mưu chiến tranh với Việt Nam từ trước.
5h sáng 17/2/1979, sau tiếng nổ liên hồi, xe tăng và xe bộ binh Trung Quốc đã nhất tề tràn ngập lãnh thổ Việt Nam. Không ai bảo ai, ông Phong cùng các đồng đội nhanh chóng tiến vào vị trí chiến đấu, dù lúc đó đường dây thông tin liên lạc đã bị cắt mất, không nhận được chỉ thị của cấp trên phối hợp chiến đấu.





111

 Xe tăng của quân xâm lược Trung Quốc bị quân dân ta bắn cháy ở Cao Bằng. Ảnh tư liệu


“Các đơn vị của Trung đoàn 567 cùng với dân quân địa phương chiến đấu chống trả quyết liệt, suốt một dải từ biên giới Tà Lùng, sang đến nhà máy đường Phục Hòa, cho đến chân đèo Khau Chỉa, lính Tàu bị chặn đứng. Xe tăng, xe bộ binh Trung Quốc cái thì tan xác, cái thì lật ngửa pháo lên trời, cái thì bốc cháy lao vào bụi tre…
Một câu chuyện vui được kể lại, có anh dân quân người địa phương chập tối 18/2 lấy đâu được 1 khẩu K44, liền ngay lập tức tham chiến. Đến lúc chỉ còn 2 viên đạn, mới nhận ra là mình đang ở giữa thung lũng, 2 bên là 2 cánh bộ binh Trung Quốc đang tìm mọi cách để tiến sang.
Anh dân quân bắn vào mỗi bên 1 phát đạn, rồi nhanh chóng chạy vào trong hốc đá, thế là 2 cánh quân xâm lược cứ thế núp kín rồi bên này bắn bên kia. Đến khi bọn lính thông tin nhận ra được tín hiệu của đồng bọn, thì đã thiệt hại lớn về nhân mạng.
Mới đầu, quân xâm lược chỉ tìm đánh với các lực lượng vũ trang chốt giữ ở biên giới, nhưng đến lúc không tiến lên nổi, chúng quay sang điên cuồng đốt phá trả thù chẳng khác gì một đám giặc cỏ. Chúng đã đánh giá quá thấp sức chiến đấu và khả năng cơ động, linh hoạt của quân dân Việt Nam”, ông Phong tự hào thuật lại.
Đến ngày thứ 3, thì có 4 chiếc xe tăng chọc thủng phòng tuyến, chạy thẳng lên đèo Khau Chỉa. Đơn vị của ông Phong nhận lệnh phải tiêu diệt bằng được.
4 xe tăng lên đến giữa đỉnh đèo thì ngay lập tức đụng phải chướng ngại vật là 1 chiếc ô tô dựng sẵn cùng một đống cây cối. Chưa kịp xoay xở, chúng đã bốc cháy ngùn ngụt sau mấy quả đạn B41. Những tên lính trong tháp pháo nhảy xuống chạy trốn cũng nhanh chóng chịu chung số phận.





22-1637

Tù binh Trung Quốc tại Cao Bằng. Ảnh tư liệu  


Sự kháng cự không hề nao núng của bộ đội và dân quân Việt Nam chốt trên hướng Khau Chỉa buộc Trung Quốc phải thay đổi chiến thuật. Chúng chia quân thành những đơn vị cỡ tiểu đoàn cơ động để tham gia vào các hoạt động tìm kiếm, khóa đường, lùng sục. Nhưng với sự cơ động và linh hoạt của các chiến sĩ, suốt cả tuần lễ, lính Trung Quốc vẫn không thể vượt qua con đèo này.
Ngày 23/2/1979, ông Phong cùng đồng đội nhận được tin quân Trung Quốc chuẩn bị một trận quyết đấu, mang một lực lượng lớn, dồn lính quyết mở thông đường qua Khau Chỉa về đèo Mã Phục hội quân. Mọi người nín thở chuẩn bị sẵn sàng, chờ đợi trận quyết đấu.
Chính trị viên đại đội tên Nguyễn Chí Cương cùng với mấy đồng động nữa chia nhau chốt giữ một nhánh đường phía bắc đèo Khau Chỉa, thì thấy có 3 chiếc xe tăng có in dòng chữ Bát Nhất tiến lại, có vẻ như lính Tàu sử dụng xe tăng đi thăm dò tình hình.
Ông Cương lặng lẽ ẩn nấp dưới giao thông hào gần đó, chờ xe đi qua, mới dùng súng B40 bắn, sau đó chạy thẳng lên đồi dưới làn đạn của giặc. 2 chiếc xe đi trước quay lại cứu đồng bọn đang bị mắc kẹt trong chiếc xe vừa bị bắn đang bốc cháy, trong phút chốc cũng chịu chung số phận. Trong trận đánh đó, ông Cương hy sinh khi quân xâm lược phát hiện ra vị trí ẩn nấp của mình ở trên núi.

Sáng hôm sau, cả đoàn xe tải nối đuôi nhau chạy vượt lên đèo. Trên xe ngoài lính tráng còn chất cả những bao hàng và những chiếc xe đạp hỏng, đó là những thứ chúng cướp được dọc đường. Chiếc xe đầu đã lọt vào trận địa phục kích mà ông Phong cùng đồng đội vẫn chưa được lệnh đánh.Chiều hôm đó, một tổ chiến sĩ khác chốt giữ lại thấy có xe chở đầy lính Trung Quốc chạy đến giao thông hào, rồi nhảy hết vào một bản ở gần đấy. Chốc chốc, chúng lại khiêng ra xe nào gà, nào vịt, nào lợn. Các chiến sĩ căm giận lắm nhưng chưa được lệnh nổ súng, đành phải nén lòng chờ đợi, không bắn vào nhóm này mà chờ những đơn vị lớn hơn.
Hàng chục con mắt và đôi tai chiến sĩ cứ căng ra và đổ dồn về phía thủ trưởng chờ đợi, chỉ sợ mình không kịp nghe lệnh để rút nụ xòe và tung lựu đạn xuống đầu địch. Và cứ mỗi chiếc xe chở lính Trung Quốc chạy qua tầm súng, các chiến sĩ lại thêm một lần hồi hộp chờ nổ súng.
Khi chiếc xe cuối cùng vào đúng vị trí khóa đuôi trên đèo thì tiểu đoàn trưởng ra lệnh bắn. Trên vai anh, quả B41 vọt ra khỏi nòng, cắm thẳng vào thùng xe và nổ tung. Trong quầng lửa màu da cam hiện rõ từng tên lính bị hất lên rồi ném xuống mặt đường nằm bất động. Phát B41 cũng là khẩu lệnh của trận đánh, tiếp đó là tiếng lựu đạn nổ, tiếng thủ pháo xen lẫn từng tràng liên thanh của AK dồn dập đánh địch.
Ở ngay vị trí chặn đầu, loạt đạn AK trúng ngay tên cầm lái, chiếc xe lảo đảo đâm vào vách núi rồi bật lại, xoay nửa vòng nằm chình ình chắn ngang đường. Đội hình 16 chiếc xe còn lại với hàng trăm tên lính nằm gọn trong tầm súng và biển lửa.
Những loạt đạn B40, B41 phóng xuống những chiếc xe bốc cháy và nổ tung liên tiếp. Những xe còn lại rối loạn, bóp còi inh ỏi tìm đường tẩu thoát, nhưng chạy đâu được khi đã lọt vào trận địa phục kích.
Lính Trung Quốc trên xe nhảy xuống chỉ kịp dúi đầu xuống sàn xe bắn trả hoặc nằm rạp xuống 2 bên đường tìm chỗ ẩn nấp. Từ trên cao, các chiến sĩ ta quăng lựu đạn, thủ pháo, bắn AK xuống. Chỉ một thời gian ngắn, xác lính đã la liệt giữa đèo Khau Chỉa.
Ông Phong cùng đồng đội đang đánh địch thì hàng trăm tên lính Trung Quốc đang chốt trên những mỏm đồi gần đó, nghe thấy tiếng súng nổ và ngọn lửa bốc cao dưới đường đèo đã bỏ luôn súng, rủ nhau chạy lên đồi cao nhìn xuống trận địa nơi đồng bọn đang bị tiêu diệt.
Nắm đúng thời cơ, trung đội trưởng cối 82 ly ra lệnh đánh. Hàng chục quả đạn đã được tính toán kĩ lưỡng bắn nối đuôi nhau dội lửa xuống đầu địch, tiêu diệt hàng chục, hàng trăm tên nữa.
Chỉ tầm hơn tiếng, trận đánh đã kết thúc. Chúng nó dự định kéo cả trăm xe qua đèo, nhưng chỉ có 17 xe lọt vào trận địa phục kích trải dài trên đèo. Những chiếc khác thấy động đã quay đầu chạy tán loạn, và bị các đơn vị khác chặn đánh dọc đường. Tôi ước tính, đoàn xe 17 chiếc này cũng phải đi tong cỡ 2 tiểu đoàn. Chúng tôi lấy được thêm súng đạn, lương thực, chiến lợi phẩm tiếp tục những ngày tháng chốt giữ trên đèo Khau Chỉa. Đây là một trận đánh xuất sắc”, ông Đinh Ngọc Phong, cựu binh Trung đoàn 567 tự hào kể lại.
Tính ra, bên hướng Thạch An và hướng Thông Nông, quân Trung Quốc tràn qua được và đánh tới thị xã Cao Bằng, nhưng ở hướng Tà Lùng, chúng đã vấp phải bức tường bằng sắt, không thể tiến thêm bước nào nữa.
Cay cú, Trung Quốc dồn một lượng quân lớn ở thị xã Cao Bằng, rồi đánh ngược lên biên giới theo hướng đèo Mã Phục, từ đằng sau đánh lên, kết hợp với quân lính từ bên kia tràn sang bổ sung quân theo đường Tà Lùng.
Mục tiêu của chúng là bao vây và diệt cho bằng hết Trung đoàn 567 cùng với các lực lượng dân quân địa phương chốt giữ ở Khau Chỉa, trả cho bằng được mối hận ấy. Đêm 29/2/1979, ông Phong cùng các đồng đội được lệnh rút lui chờ thời cơ phản kích.
Trung đoàn 567 hành quân về đến Quảng Uyên lại đụng độ và bắn nhau với địch một trận long trời lở đất nữa, nhưng vẫn bảo toàn được lực lượng, rút về địa điểm ém quân đã định.
“12 ngày đêm chiến đấu trên đèo Khau Chỉa và những khu vực lân cận ấy, về sau tổng kêt, mới biết cả Trung đoàn đã tiêu diệt tổng cộng 34 chiếc xe tăng, hàng loạt xe bộ binh, thiết giáp, số lính Tàu tử trận thì không kể xiết, lượng thương vong lớn. Dù rằng bên mình cũng có không ít hy sinh mất mát, nhưng dù sao, chúng tôi cũng đã chiến thắng. Để Trung Quốc thấy rằng, người Việt Nam đâu dễ dàng bị chúng ức hiếp, đâu dễ dàng bị bắt nạt”, người cựu binh khẳng định, nét mặt bâng khuâng như đang chìm đắm trong những ký ức. Câu chuyện xảy ra đã 38 năm, nhưng với ông Phong và các đồng đội, nó như vừa mới hôm qua.

Sưu tầm (VTC News)  (Theo ký ức của cựu binh Đinh Ngọc Phong cùng các đồng đội)

Thứ Năm, 16 tháng 2, 2017

Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc 1979: Tương quan lực lượng Việt Nam - TQ

Không quân và hải quân Trung Quốc cũng triển khai 948 máy bay chiến đấu trên 15 căn cứ ở Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Hải Nam gồm 706 tiêm kích J-5, J-6, J-7; 120 tiêm kích bom J-6, Q-5 và 122 máy bay ném bom H-5, H-6 sẵn sàng chi viện





Trung Quốc đã huy động cả Hải quân - Không quân 
Để lừa dối cả thế giới về cuộc chiến tranh phi nghĩa xâm lược Việt Nam vào tháng 2 năm 1979, nhà cầm quyền Bắc Kinh thời bấy giờ đã tích cực tuyên truyền rằng đây là một cuộc "Chiến tranh phản kích tự vệ". Nhưng thực tế, chính họ đã cho thấy đó là lời nói dối trắng trợn bởi Bắc Kinh đã chuẩn bị rất kỹ lưỡng cho cuộc chiến này và chủ động mở cuộc chiến xâm lược trên quy mô lớn, toàn tuyến biên giới giáp với Việt Nam.
Ngoài Quân đoàn 41, 42, 55 của quân khu Quảng Châu và  11, 14 của quân khu Côn Minh có sẵn ở phía nam, họ còn điều động các đơn vị dự bị gồm Quân đoàn 20, 43, 54 của quân khu Vũ Hán ở phía đông và 13, 50 thuộc quân khu Thành Đô ở phía bắc. Binh lực tham chiến trực tiếp lên tới 28 sư đoàn chủ lực cùng 2 sư đoàn và nhiều trung đoàn, tiểu đoàn địa phương, biên phòng và dân binh.
Đạo quân này được sự chi viện của 7 trung đoàn và 1 tiểu đoàn xe tăng, 2 sư đoàn và 39 trung đoàn pháo binh, 2 sư đoàn phòng không và nhiều trung đoàn bảo đảm (công binh, thông tin, vận tải…). Tổng cộng, Trung Quốc huy động vào cuộc chiến trên bộ khoảng 600.000 quân; 550 xe tăng thiết giáp loại Type-62, Type-59, Type-63; 2.000 khẩu pháo mặt đất và súng cối từ 76,2mm đến 152mm, súng cối 160mm và dàn phóng hỏa tiễn 107mm đến 130mm.
Bên cạnh đó, không quân và hải quân Trung Quốc cũng triển khai 948 máy bay chiến đấu trên 15 căn cứ ở Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Hải Nam gồm 706 tiêm kích J-5, J-6, J-7; 120 tiêm kích bom J-6, Q-5 và 122 máy bay ném bom H-5, H-6 sẵn sàng chi viện khi có yêu cầu.
Hạm đội Nam Hải với 300 tàu chiến cũng được đặt trong tình trạng báo động cao, đồng thời tăng cường một biên đội tàu tên lửa xuống khu vực quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam mà Trung Quốc đang chiếm đóng trái phép.
Lính Trung Quốc cùng sự yểm trợ của xe tăng tấn công vào lãnh thổ Việt Nam. (Ảnh tư liệu)
Cuộc xâm lược được Bắc Kinh tiến hành trên hai hướng.
Cánh đông do Thượng tướng Hứa Thế Hữu (Xu Shiyou), Tư lệnh Đại quân khu Quảng Châu chỉ huy có 18 sư đoàn chủ lực, 1 sư đoàn địa phương, 3 trung đoàn biên phòng cùng các đơn vị binh chủng và dân binh.
Hỗ trợ cho hướng này là 6 trung đoàn và 1 tiểu đoàn xe tăng, 1 sư đoàn pháo binh và 1 sư đoàn phòng không. Cánh quân này đảm nhiệm tiến công ba tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh của Việt Nam, cụ thể:
- Hướng Cao Bằng có 10 sư đoàn bộ binh: 58 (Quân đoàn 20), 121, 122, 123 (Quân đoàn 41), 124, 125, 126 (Quân đoàn 42), 129 (Quân đoàn 43), 150 (Quân đoàn 50), 160, 162 (Quân đoàn 54).
- Hướng Lạng Sơn có 8 sư đoàn bộ binh: 127, 128 (Quân đoàn 43), 148 (Quân đoàn 50), 160, 161 (Quân đoàn 54), 163, 164, 165 (Quân đoàn 55).
- Hướng Quảng Ninh có sư đoàn địa phương quân Quảng Tây. 
Cánh tây do Thượng tướng Dương Đắc Chí (Yang Dezhi), Tư lệnh Đại quân khu Côn Minh chỉ huy có 10 sư đoàn chủ lực, 1 sư đoàn địa phương, 4 trung đoàn biên phòng cùng các đơn vị binh chủng và dân binh. Hỗ trợ cho hướng này là 1 trung đoàn xe tăng, 1 sư đoàn pháo binh và 1 sư đoàn phòng không. Lực lượng này đảm nhiệm tiến công ba tỉnh Hà Tuyên (nay là Hà Giang), Hoàng Liên Sơn (nay là Lào Cai), Lai Châu của Việt Nam, cụ thể:
- Hướng Hà Tuyên có Trung đoàn 12 biên phòng cùng lực lượng dân binh.
- Hướng Hoàng Liên Sơn có 8 sư đoàn bộ binh: 32 (Quân đoàn 11), 37, 38, 39 (Quân đoàn 13), 40, 41, 42 (Quân đoàn 14), 149 (Quân đoàn 50).
- Hướng Lai Châu có Sư đoàn 31 Quân đoàn 11 và sư đoàn địa phương quân Vân Nam.
Việt Nam chỉ có lực lượng vũ trang tại chỗ cùng nhân dân 6 tỉnh biên giới
Đương đầu với đạo quân xâm lược hùng hậu của Trung Quốc là các lực lượng vũ trang tại chỗ cùng nhân dân 6 tỉnh biên giới Việt Nam.
Quân khu 1 do Thiếu tướng Đàm Quang Trung làm tư lệnh kiêm chính ủy có 4 sư đoàn và 1 lữ đoàn chủ lực, 7 trung đoàn và 21 tiểu đoàn địa phương. Bố trí trên tuyến biên giới Đông Bắc như sau:
Bộ đội chủ lực:
- Sư đoàn bộ binh 3 (đoàn Sao Vàng) gồm Trung đoàn bộ binh 2 (đoàn An Lão), 12 (đoàn Tây Sơn), 141 (đoàn Hoài Ân) và Trung đoàn pháo binh 68; bố trí tại khu vực Đồng Đăng, Văn Lãng, Cao Lộc và thị xã Lạng Sơn của tỉnh Lạng Sơn.
- Sư đoàn bộ binh 338 gồm Trung đoàn bộ binh 460, 461, 462 và Trung đoàn pháo binh 208; bố trí tại khu vực nam Lộc Bình, Đình Lập của tỉnh Lạng Sơn và An Châu của tỉnh Quảng Ninh.
- Sư đoàn bộ binh 346 (đoàn Lam Sơn) gồm Trung đoàn bộ binh 246 (đoàn Tân Trào), 677, 851 và Trung đoàn pháo binh 188; bố trí tại khu vực Trà Lĩnh, Hà Quảng, Hòa An của tỉnh Cao Bằng.
- Sư đoàn bộ binh 325B (về sau đổi thành 395) gồm Trung đoàn bộ binh 8, 41, 288 và Trung đoàn pháo binh 189; bố trí tại khu vực Tiên Yên, Bình Liêu của tỉnh Quảng Ninh.
- Lữ đoàn bộ binh 242 đảm nhiệm phòng thủ khu vực bờ biển và tuyến đảo Quảng Ninh.
Phần lớn các đơn vị binh chủng trực thuộc Quân khu 1 như Trung đoàn pháo binh 166, Trung đoàn phòng không 272, Trung đoàn xe tăng 407, Trung đoàn công binh 522 cùng tiểu đoàn pháo tầm xa 130mm thuộc Lữ đoàn pháo binh 675 (đoàn Anh Dũng) tăng cường được tập trung chi viện cho hướng Lạng Sơn.
Bộ đội địa phương:
Hướng Cao Bằng có Trung đoàn bộ binh 567 của BCHQS tỉnh ở khu vực Quảng Hòa; 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn cao xạ, 7 tiểu đoàn bộ binh của các huyện Bảo Lạc, Hà Quảng, Trà Lĩnh, Trùng Khánh, Quảng Hòa, Hòa An, Ba Bể và 3 đại đội của Thông Nông, Thạch An, thị xã Cao Bằng.
Hướng Lạng Sơn có 2 trung đoàn bộ binh trực thuộc BCHQS tỉnh là Trung đoàn 123 ở khu vực Lộc Bình và Trung đoàn 199 ở khu vực Tràng Định; 7 tiểu đoàn bộ binh của các huyện Tràng Định, Văn Lãng, Cao Lộc, Lộc Bình, Đình Lập, Văn Quan và thị xã Lạng Sơn.
Hướng Quảng Ninh có 2 trung đoàn bộ binh trực thuộc BCHQS tỉnh là Trung đoàn 43 ở khu vực Móng Cái và Trung đoàn 244 ở khu vực Quảng Hà; 1 tiểu đoàn pháo binh, 4 tiểu đoàn cao xạ và 5 tiểu đoàn bộ binh của các huyện Bình Liêu, Quảng Hà, Móng Cái, Hà Cối, Cẩm Phả.
Lực lượng công an vũ trang có Trung đoàn công an vũ trang cơ động 12 (đoàn Thanh Xuyên) bố trí ở Lạng Sơn, 4 tiểu khu (tương đương tiểu đoàn) ở Cao Bằng và Quảng Ninh, một số đại đội cơ động và 24 đồn biên phòng.
Lực lượng tuyến sau của Quân khu 1 có Sư đoàn 431 và Trung đoàn 852 là khung huấn luyện tân binh cùng 2 trung đoàn và 2 tiểu đoàn bộ binh của các tỉnh Hà Bắc, Bắc Thái.
Quân khu 2 do Thiếu tướng Vũ Lập làm tư lệnh kiêm chính ủy có 3 sư đoàn chủ lực, 8 trung đoàn và 24 tiểu đoàn địa phương. Bố trí trên tuyến biên giới Tây Bắc như sau:
Bộ đội chủ lực:
- Sư đoàn bộ binh 316 (đoàn Bông Lau) gồm Trung đoàn bộ binh 98, 148 (đoàn Sơn La), 174 (đoàn Cao Bắc Lạng) và Trung đoàn pháo binh 187; bố trí tại khu vực Bình Lư, Phong Thổ của tỉnh Lai Châu.
- Sư đoàn bộ binh 345 gồm Trung đoàn bộ binh 118, 121, 124 và Trung đoàn pháo binh 190; bố trí tại khu vực Bảo Thắng của tỉnh Hoàng Liên Sơn.
- Sư đoàn bộ binh 326 gồm Trung đoàn bộ binh 19, 46, 541 và Trung đoàn pháo binh 200; bố trí tại khu vực Tuần Giáo, Điện Biên của tỉnh Lai Châu.
Phần lớn các đơn vị binh chủng trực thuộc Quân khu 2 như Trung đoàn pháo binh 168, Trung đoàn phòng không 297, Trung đoàn công binh 89 được tập trung chi viện cho hướng Hoàng Liên Sơn.
Bộ đội địa phương
Hướng Hà Tuyên có Trung đoàn bộ binh 122, 191 của BCHQS tỉnh, 1 tiểu đoàn pháo binh và 8 tiểu đoàn bộ binh của các huyện Mèo Vạc, Đồng Văn, Quản Bạ, Hoàng Su Phì, Xìn Mần, Na Hang.
Hướng Hoàng Liên Sơn có 2 trung đoàn bộ binh của BCHQS tỉnh là Trung đoàn 192 ở khu vực thị xã Lào Cai và Trung đoàn 254 ở khu vực Bảo Thắng; 1 tiểu đoàn pháo binh và 8 tiểu đoàn bộ binh của các huyện Mường Khương, Bát Xát, Bảo Thắng, thị xã Lào Cai, Yên Bái.
Hướng Lai Châu có Trung đoàn 193 và 741 (ở khu vực Sìn Hồ) của BCHQS tỉnh, 1 tiểu đoàn pháo binh và 5 tiểu đoàn bộ binh của các huyện Phong Thổ, Mường Tè, Mường Lay, Điện Biên, Sìn Hồ.
Lực lượng công an vũ trang có Trung đoàn công an vũ trang cơ động 16 ở Hoàng Liên Sơn, một số đại đội cơ động và 39 đồn biên phòng.
Lực lượng tuyến sau của Quân khu 2 có Sư đoàn 411 là khung huấn luyện tân binh cùng 2 trung đoàn và 8 tiểu đoàn bộ binh của các tỉnh Sơn La, Vĩnh Phú.
Đóng góp vào thế trận phòng thủ chung trên địa bàn 6 tỉnh biên giới còn có các đơn vị binh chủng (pháo cối, ĐKZ, cao xạ, trinh sát, công binh, thông tin, quân y, vận tải) của các BCHQS tỉnh và huyện, thị; lực lượng công an, cảnh sát và đông đảo dân quân, tự vệ ở khắp các làng bản, huyện thị, nông lâm trường và nhà máy xí nghiệp... được tổ chức ở quy mô từ cấp trung đội đến cấp trung đoàn (ở mỗi quân khu có khoảng 500.000 dân quân tự vệ).
Từ tháng 1-1979, đối phương bắt đầu ráo riết đẩy mạnh các hoạt động trinh sát vũ trang dọc biên giới. Chỉ trong tháng 1 và tuần đầu tiên của tháng 2-1979, phía Trung Quốc đã gây ra 230 vụ xâm phạm vũ trang vào lãnh thổ Việt Nam, từ gây hấn, khiêu khích cho tới phục kích, giết hại, bắt cóc người đưa về Trung Quốc, tập kích, bắn phá các đồn biên phòng và trạm gác của công an, dân quân Việt Nam cũng như các cơ sở sản xuất của nhân dân. 
Trong những vụ xâm phạm này, lính Trung Quốc đã giết hại trên 40 dân thường và chiến sĩ, làm bị thương hàng trăm người và bắt đi hơn 20 người. Đặc biệt có những vụ diễn ra sâu trong lãnh thổ Việt Nam tới 5km như vụ tập kích trạm gác của dân quân ở Bản Lầu (Hoàng Liên Sơn) ngày 14-1, có những vụ quy mô lớn như huy động 1 tiểu đoàn chính quy tấn công bình độ 400 ở Thanh Lòa, Cao Lộc (Lạng Sơn) ngày 10-2, có những vụ pháo kích lớn đã sử dụng cả tới pháo 85mm, súng cối, ĐKZ... Cùng với đó là hàng chục lần tốp máy bay và tàu thuyền xâm phạm vùng trời, vùng biển của Việt Nam.
Ngày 1-1-1979, theo chỉ thị của Thường vụ Quân ủy Trung ương, các lực lượng vũ trang biên giới được lệnh chuyển sang trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao. Ngày 15-2, ngoại trừ các xã biên giới và một vài đơn vị, các lực lượng trên tuyến 1 được lệnh hạ cấp xuống trạng thái sẵn sàng chiến đấu tăng cường. Nhiều đơn vị tổ chức cho phần lớn bộ đội về trạng thái sinh hoạt bình thường, di chuyển, điều chỉnh lại đội hình bố trí… 
Tuy nhiên đến rạng sáng ngày 17-2-1979, pháo binh Trung Quốc đã khai hỏa bắn phá các mục tiêu trong lãnh thổ Việt Nam, mở màn cuộc xâm lược.
Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của quân và dân Việt Nam chính thức bắt đầu.
-------------------------------------
Bài viết được chắt lọc, tham khảo và tổng hợp từ các tài liệu, sách báo đã từng được xuất bản như: 
Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân Quân khu 1 và 2; 
Lịch sử các quân đoàn 1, 2, Binh đoàn Pắc Bó; 
Lịch sử các sư đoàn 3, 316, 337, 338, 346, 395; 
Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Lạng Sơn, thị xã Cao Bằng; Lịch sử Bộ đội Biên phòng
Lịch sử Dẫn đường Không quân
Lịch sử Pháo binh QĐNDVN
Báo Quân đội Nhân dân tháng 2 và 3-1979
China’s Aggression: How and Why It Failed – Nguyen Huu Thuy
Chinese Military Strategy In The Third Indochina War - Edward C. O’Dowd
China’s War With Vietnam 1979 – King C. Chen
                                                                                                                        Sưu tầm