Thứ Năm, 16 tháng 2, 2017

Nậu bjoóc hom Đoỏng Có

Trong không khí ấm áp của những ngày xuân năm mới, chúng tôi về thăm huyện Thông Nông, gặp bà Hoàng Thị Nhình - người đã cống hiến hết mình trong phong trào diệt giặc dốt, giặc đói, “Ba đảm đang”, “Ba sẵn sàng”, “2 tốt”… trong kháng chiến chống Mỹ và bảo vệ, xây dựng Tổ quốc. Bà từng được Quân khu Việt Bắc (Quân khu 1) thực hiện bộ phim tài liệu với tên gọi “Nậu bjoóc hom Đoỏng Có” (bông hoa thơm ở Đoỏng Có). Cái tên này đã gắn với bà Nhình đến nay và được bao thế hệ huyện Thông Nông kể lại với niềm tin yêu, tự hào.

CHẮC TAY CÀY, VỮNG TAY SÚNG BẢO VỆ QUÊ HƯƠNG
Bà Hoàng Thị Nhình sinh năm 1947, tại xóm Đoỏng Có, xã Cần Yên (thuộc huyện Hà Quảng khi chưa tách huyện trước năm 1966 và huyện Thông Nông hiện nay) trong một gia đình nông dân nghèo có truyền thống yêu nước. Năm 1959, khi đã 12 tuổi, Nhình là người con gái duy nhất trong xóm đi học lớp 1 tại xóm Tả Bốc, cách nhà 5 km đường núi đá. Đi học chậm so với tuổi nhưng ham học, lại sáng dạ nên Nhình có kết quả học rất tốt. Năm 1963, Hợp tác xã (HTX) Đoỏng Có được thành lập, dù mới 15 tuổi và là học sinh lớp 3 nhưng bà con xã viên thấy Nhình nhanh nhẹn lại biết chữ nên tín nhiệm bầu vào Ban quản trị, kiêm thủ kho, Tổ trưởng Tổ Khoa học kỹ thuật phụ trách một đội lao động. Buổi sáng đi học, Nhình giao lại cho đội phó tờ giấy để ghi công điểm ngoài đồng. Đến trưa đi học về, Nhình ghi công điểm của bà con vào sổ rồi lại theo xã viên đi làm. Đến tối, họp xã viên, Nhình bàn công tác sáng mai, phân công nhiệm vụ cho xã viên; tan họp cố ôn bài để sáng hôm sau lại cắp sách tới trường. Cứ như thế, Nhình lãnh đạo đội mình sản xuất hoàn thành mọi nhiệm vụ. 
Năm học lớp 4, vì ở xã chưa có trường cấp 2 nên Nhình phải nghỉ học. Trong lúc đợi xã mở trường cấp 2, tự thấy trách nhiệm của mình là phải giúp bà con xóa nạn mù chữ, Nhình mở lớp xóa mù chữ tại xóm, sau đó, phong trào nhanh chóng lan rộng đến các xóm khác trong xã. Bà con ngày càng tin cậy Nhình. Từ năm 1964, Nhình được bầu làm Chủ nhiệm HTX kiêm Bí thư Chi đoàn Thanh niên xóm, Ủy viên Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên xã Cần Yên, Ủy viên Ban Chấp hành Phụ nữ xã. Nhiệm vụ nào Nhình cũng hoàn thành tốt bởi luôn hết mình với công việc, có quyết tâm, mạnh dạn và tinh thần trách nhiệm rất cao. 
Trong những năm 1964 - 1969, Nhình không chỉ làm Chủ nhiệm HTX tốt mà còn là một Trung đội trưởng nữ dân quân xã Cần Yên can đảm, có ý chí, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Năm 1964, tại xã Cần Yên mới chỉ có một tiểu đội nữ dân quân gồm 6 người được thành lập, Nhình làm tiểu đội trưởng. Nhình đã đến vận động, tuyên truyền, nói chuyện cho chị em phụ nữ hiểu đây là giai đoạn cả nước đang tập trung kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đàn ông đã đi bộ đội thì chị em ở nhà không chỉ thực hiện tốt phong trào “Ba đảm đang” làm hậu phương vững chắc mà còn cần hưởng ứng và làm tốt phong trào “Ba sẵn sàng”. Từ đó, các tiểu đội nữ dân quân khác trong xã lần lượt được thành lập, phát triển với nhiều hoạt động hiệu quả: Rèn luyện tay súng canh gác bảo vệ xóm bản; là lực lượng nòng cốt khi trên địa bàn xảy ra hỏa hoạn; bắt giữ mật thám… Từ năm 1965 - 1969, các tiểu đội nữ dân quân trên địa bàn xã đã phát triển thành Trung đội nữ dân quân xã Cần Yên do bà Nhình làm Trung đội trưởng.
Với nhiều thành tích trên các lĩnh vực nên từ năm 1963 - 1969, bà Nhình được tặng nhiều giấy khen, bằng khen các cấp, được kết nạp Đảng khi mới 19 tuổi; 7 năm liền là Chiến sỹ thi đua toàn tỉnh; được báo cáo điển hình tại Đại hội Thi đua mừng công toàn tỉnh (về phong trào “Ba đảm đang” của tỉnh). Năm 1966, Ty Giáo dục, Tỉnh đoàn Thanh niên lao động Cao Bằng phát động các trường học toàn tỉnh học tập và làm theo gương Hoàng Thị Nhình. Đặc biệt, năm 1967, bà được khen thưởng Chiến sỹ Thi đua Quyết thắng toàn quốc vì có thành tích vượt mọi khó khăn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Trung đội trưởng nữ dân quân xã Cần Yên; được Quân khu Việt Bắc tặng Bằng khen… Năm 1990, bà Nhình được Chủ tịch nước tặng Huy chương Kháng chiến hạng nhất do có nhiều đóng góp trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đặc biệt, tháng 3/2015, bà Nhình là một trong 2 đại biểu của tỉnh vinh dự được tham dự cuộc gặp mặt, tri ân các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, đại biểu tiêu biểu của “Đội quân tóc dài” và phong trào “Ba đảm đang” tại Phủ Chủ tịch; được nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan đón tiếp nhân kỷ niệm 105 năm Ngày Quốc tế Phụ nữ, 55 năm  “Đội quân tóc dài”, 50 năm phong trào “Ba đảm đang”. 
Ông Tô Hồng, nguyên Bí thư Huyện ủy Thông Nông nhiệm kỳ 1985 - 1990, trước đó có quá trình làm cán bộ huyện từ những năm 1964 cùng thời với bà Nhình trước và sau này, chia sẻ: Trưởng thành từ HTX Đoỏng Có, từ phong trào “Ba đảm đang” và là một phụ nữ giàu nghị lực, sau này, đồng chí Hoàng Thị Nhình tiếp tục thành công ở các cương vị khác nhau: Đại biểu HĐND huyện khóa V nhiệm kỳ 1968 - 1971; từ năm 1969 - 1973 học Trường Tuyên huấn Trung ương; 1973 - 1975, công tác tại Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy; 1975 - 1984, Phó Ban Tuyên giáo Huyện ủy Thông Nông; 1985 - 1996, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Thông Nông…, đến năm 2002 bà Nhình nghỉ hưu. Được sự động viên của gia đình và sự tín nhiệm của cộng đồng, hiện bà Nhình tiếp tục tham gia công tác tại Hội Người cao tuổi tại thị trấn Thông Nông.
KỶ VẬT VÔ GIÁ CỦA CUỘC ĐỜI
Ngồi nghe bà Nhình sôi nổi kể lại kỷ niệm trong quá trình công tác cũng như được xem rất nhiều phần thưởng, chứng nhận, bằng khen của bà, tôi chợt chú ý trong một chiếc hộp nhỏ màu đỏ được bọc rất kỹ trong các kỷ vật của bà, bà bảo: Với tôi, đây là phần thưởng, là kỷ vật thiêng liêng và cao quý nhất được nhận trong cuộc đời. Đó chính là Huy hiệu Bác Hồ trao tặng năm 1966...
Giữa không khí sôi sục của những ngày “Nam - Bắc thi đua đánh giặc Mỹ”, Hoàng Thị Nhình khi đó là chủ nhiệm HTX Đoỏng Có đã cùng chị em phụ nữ không quản ngại khó khăn, “làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm”, luôn đi đầu và làm nòng cốt trong việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, như: Nhân giống mới cho xã viên, hướng dẫn chị em cấy theo lối mới, kinh nghiệm gieo cấy lúa xuân, kỹ thuật tưới tiêu, làm thủy lợi… Áp dụng khoa học kỹ thuật thành công và được mời sang các xã lân cận trong huyện để phổ biến kinh nghiệm. 

Bà Hoàng Thị Thanh, xóm Nà Ca, xã Cần Yên (Thông Nông), cùng tuổi với bà Nhình và là xã viên HTX Đoỏng Có bấy giờ, kể lại: Khi bắt đầu được bầu làm Chủ nhiệm HTX cũng là lúc Nhình học tiếp lớp 5 tại trường cấp 2 của xã. Nhiệm vụ học tập nặng nề thêm nhưng Nhình vừa học vừa làm tốt công tác chủ nhiệm với nhiều cách làm mới, đem lại nhiều lợi ích cho xã viên. Khi đó, HTX chỉ trồng lúa, ngô theo truyền thống nhưng thấy cây thuốc lá ở những huyện lân cận, như: Hòa An, Hà Quảng… đem lại giá trị kinh tế nên Nhình đã đề xuất HTX đem cây thuốc lá về trồng. Nhình tự dùng 30 đồng dành dụm được mua 1 vạn cây thuốc lá về trồng, hằng ngày tự chăm bón. Khi cây phát triển xanh tốt, Nhình giao lại cho HTX gần 700 cây không tính công điểm. Khi cây thuốc lá cho thu hoạch lại không có lò sấy, Nhình phải đi học cách làm lò sấy, vận động chị em lấy cây về dựng lò, tìm chảo về làm thay ống dẫn nhiệt và tự Nhình phụ trách kỹ thuật xây lò, sấy thuốc. Vụ thuốc lá đầu tiên bán được 1.200 đồng cũng là số tiền kiếm được lớn nhất của HTX. Từ việc làm này đến việc làm khác, dần dần Nhình chiếm được lòng tin của tất cả bà con xã viên. Nhiều người vẫn nói: Có Nhình làm Chủ nhiệm HTX không ai lo bị đói nữa.
Tin cô Nhình làm chủ nhiệm HTX giỏi lan ra toàn xã, rồi đến huyện, đến tỉnh, đến Trung ương và Bác Hồ nghe được chuyện đã gửi tặng Nhình Huy hiệu mang tên Người. Huy hiệu là phần thưởng cao quý, là nguồn động lực lớn lao để Nhình luôn cố gắng học tập, rèn luyện, phục vụ nhân dân thật tốt. 
Đến nay, dù đã nghỉ hưu nhưng với ý chí đã được tôi luyện nhiều năm qua, bà Nhình không ngại việc gì, hằng ngày tăng gia sản xuất cùng gia đình nuôi các con khôn lớn. Dù ở vị trí nào, nhưng trong lòng bà vẫn luôn rạng ngời niềm tự hào, không thôi nghĩ về Bác. Mỗi khi nhắc về Bác Hồ, về tấm Huy hiệu của Người, ánh mắt bà lại rạng ngời niềm tự hào và vui sướng lẫn sự xúc động. Những đóng góp của thế hệ cha anh đã quên mình vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, trong đó có một phần đóng góp không nhỏ của những người phụ nữ “Anh hùng - Bất khuất - Trung hậu - Đảm đang” như “Nậu bjoóc hom Đoỏng Có” Hoàng Thị Nhình đã làm nên những mùa xuân bất tận của dân tộc.
                                                                                                                                                                                 Sưu tầm

Thứ Ba, 14 tháng 2, 2017

Hàng nghìn thanh niên Quân khu I nô nức lên đường nhập ngũ


TIN LIÊN QUAN

Sáng 14/2, các địa phương trên địa bàn Quân khu I gồm Thái Nguyên, Cao Bằng, Bắc Ninh đã đồng loạt tổ chức Lễ giao nhận quân năm 2017 với tinh thần khẩn trương, trang trọng, tiết kiệm và đúng nghi thức.

Để thực hiện tốt công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ năm 2017, từ nhiều tháng qua, Bộ Tư lệnh Quân khu I đã hướng dẫn các địa phương trên địa bàn thực hiện tốt các bước từ đăng ký thanh niên trong độ tuổi nghĩa vụ quân sự đến xét duyệt, đảm bảo công khai, dân chủ, chính xác, đúng theo luật định.

Hội đồng nghĩa vụ quân sự các huyện, thị, thành phố đã chỉ đạo các xã, phường, thị trấn tổ chức thăm hỏi, động viên gia đình và thanh niên trúng tuyển để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và giải quyết những khó khăn, vướng mắc của từng trường hợp cụ thể.

Trước giờ diễn ra lễ giao nhận quân, các địa phương đã tập trung chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể làm tốt công tác chính sách hậu phương quân đội, động viên gia đình và thanh niên trúng tuyển sẵn sàng lên đường nhập ngũ. 100% số thanh niên trúng tuyển nhập ngũ năm 2017 đều yên tâm tư tưởng, xác định tốt trách nhiệm công dân, sẵn sàng lên đường bảo vệ Tổ quốc.

Qua thống kê bước đầu, trong đợt giao nhận quân năm nay, số tân binh thuộc địa bàn Quân khu I có sức khỏe loại 1 và 2 đạt 62%; có trình độ văn hóa phổ thông trung học đạt 59%; tân binh dân tộc thiểu số chiếm 39%. Đặc biệt, trong số tân binh của Quân khu I năm nay có tới 15% thanh niên tình nguyện lên đường nhập ngũ...

Ngày 15/2, Lễ giao nhận quân năm 2017 tiếp tục diễn ra tại các tỉnh thuộc Quân khu I như: Lạng Sơn, Bắc Giang và Bắc Kạn.
Nguồn TTXVN

Cháy nhà gỗ nghiến, người đàn ông 61 tuổi chết thảm







(Ảnh minh họa: Tuấn Anh/TTXVN phát)

Khoảng 0 giờ ngày 14/2, một vụ cháy đã xảy ra tại xóm Nà Quản, xã Minh Long, huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng, khiến ông Mã Văn Núm, 61 tuổi, chủ nhà tử vong.

Theo những người thân của nạn nhân, ông Núm sống một mình trong căn nhà sàn gỗ nghiến 4 gian.

Căn nhà nằm biệt lập với những nhà xung quanh nên khi xảy cháy không ai kịp biết để ứng cứu.

Chiều 13/2, ông Núm đi dự đám cưới, có thể đã uống nhiều rượu nên khi xảy ra cháy, ông Núm không đủ tỉnh táo để khống chế đám cháy và thoát ra ngoài.

Đến sáng 14/2, khi đám cháy đã tàn, người dân mới tìm thấy thi thể ông Núm trong đám tro tàn. Toàn bộ căn nhà và tài sản bị hư hỏng.

Chính quyền địa phương đang xem xét phương án hỗ trợ gia đình người bị nạn đồng thời tuyên truyền vận động người dân nâng cao cảnh giác, đề phòng hỏa hoạn trong mùa khô./.

Nguồn (TTXVN) 

Thứ Ba, 7 tháng 2, 2017

Tiếng xưa gà đón xuân về

TP - Nhớ hồi đồng hồ còn là đồ vật quý hiếm, cũng giống như mọi nơi, quê tôi thường đón giao thừa bắt đầu bằng tiếng gà gáy. Hồi đó phố tôi, cái thị trấn Cô Sầu tận non nước Cao Bằng xa lắc, có một gia đình rất ưa nuôi gà trống gáy.

Minh họa: Đỗ Phấn
Minh họa: Đỗ Phấn
Đó là nhà lão Lâm. Nhà lão có thằng con tên Păn chạc tuổi tôi, nó rất hãnh diện mỗi khi được giúp cha chăm sóc đàn gà trống lông đỏ, điểm màu vàng chanh. Cả đàn con nào con nấy chắc nịch, bước đi oai vệ, cựa nhọn hoắt cong như mũi câu liêm, mào rực như giấy hồng điều. Thằng Păn bảo, cả nhà nó từ già tới trẻ đều mê gà, nhất là gà trống có tiếng gáy đĩnh đạc, ngân vang. Đàn cả trăm con có khi chỉ một con có tiếng gáy như thế. Hồi đó nhà nào cũng nuôi gà, mọi người đều ước nuôi được con trống có tiếng gáy như gà lão Lâm gia. Tiếng gáy mang đến may mắn cho con người ta phải là gáy phút giao thừa. Lão Lâm chắc nịch như thế. Lão còn bảo, nghe tiếng gà gáy người ta có thể biết nhà nào khá giả, nhà ai túng bấn nghèo hèn. Gà của kẻ khó, tiếng gáy nghe lép, đứt đoạn, kết thúc chuỗi âm thanh yếu ớt là tiếng ò ọ vớt vát hệt quả héo rụng lăn góc vườn, chầm chậm buồn bã. Tiếng gà gáy của nhà giàu sang nghe biết ngay, nó nổi bật bởi độ ngân vang, kiêu dũng và đĩnh đạc vô cùng. Âm ò ó o cuối cùng được nhấn mạnh và cong vút như cầu vồng mùa hạ. Đó chính là tiếng gáy mang đến tài, lộc cho một năm mới.
Tận bây giờ tôi vẫn chưa hiểu, lão Lâm luyện cách nào mà đúng phút giao thừa gà nhà lão bao giờ cũng cất tiếng gáy đầu tiên. Tiếng gáy oai vệ như kèn lệnh làm họ hàng nhà gà tức nhau đập cánh râm ran. Dân Cô Sầu bảo, con gà trống nhà Lâm như tư lệnh, khi đập cánh, vươn cổ tức thì quân tướng đồng thanh. Tiếng gà gáy báo cho các nhà náo nức đốt pháo tống cựu nghênh tân. Sắp mâm, đốt đèn bày ra trước cửa cúng tế trời đất. Cầu cho một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Lúc này cả thị trấn núi non bao bọc bỗng rực rỡ ánh đèn như đêm hội hoa đăng. Từng tốp người tay cầm đuốc, vai quẩy thùng rủ nhau ra mỏ nước chân núi Hiếu Lễ xin sơn thần, thổ địa gánh nước mới về. Giây phút này nước mới là vật chất thiêng liêng nhất. Từ bao đời, thứ đầu tiên đưa vào nhà lúc giao thừa của người Tày, Nùng phải là nước. Nước sẽ đem đến cho một năm mới sự ngọt ngào và an lành vô cùng. Chờ đổ nước vào ang xong, mọi người trong gia đình lại quây quần bên mâm cỗ, ăn mỗi thứ một chút để lấy lộc.
Trong tiết trời se lạnh, trẻ nhỏ háo hức đợi những đồng xu lì xì. Để rồi sớm mùng 1 tết chỉ được chơi trong nhà và ngoài đường, chứ nhất quyết chưa được bước chân vào nhà ai. Đó là điều kiêng kỵ, mục đích tránh xung tuổi với gia chủ, vì như thế năm mới sẽ gặp điềm không may. Trẻ nhỏ ngày tết thật sướng, từ mùng 2 tết chúng hồn nhiên vui chơi mà không lo ngại bị ai quấy rầy, trách mắng. Người Tày, Nùng không bao giờ đánh mắng trẻ nhỏ trong những ngày tết. Đánh mắng, nặng lời với chúng trong những ngày tết sẽ làm chúng đau ốm, bệnh tật quanh năm, học hành không tấn tới. Vậy nên những ngày này trẻ nhỏ là những con chim tự do, là mặt trời làm bừng thức muôn loài trong nắng xuân ấm áp.
Sáng mai mùng 1, các nhà sẽ mở cửa hồi hộp chờ lão ăn mày mà không phải ăn mày. Lão là người bình thường nhưng có nhiều chữ hơn người. Lão tự nguyện khoác lên bộ quần áo cũ rách, lần lượt đến các nhà khai vài xuân. Chúc cho trẻ già một năm mới bình an, thịnh vượng, vô cương. Trẻ nhỏ sẽ thả vào trong chiếc thu xáu đan bằng cật giang đeo bên hông lão những đồng xu lẻ. Chỉ cần một đồng xu thôi, sẽ được nghe sướng tai một bài thơ chúc phúc và sẽ được dán lên cánh cửa một tờ giấy điều với những chữ nôm Tày đẹp như phượng múa. Không khí tết cứ ngất ngây, ngất ngây.
Ngày mùng 2 rồi mùng 3, mùng 4... Tết mới thật là tết, xuân mới thật là xuân. Trai tài, gái sắc, già trẻ lớn bé tốp năm, tốp bảy kéo nhau từ nhà này sang nhà khác. Xóm này tới xóm kia, quần áo mới, giày dép mới đưa những nét mặt tươi rói đến chật sân, chật cửa tay bắt mặt mừng, chúc nhau lời hoa, lời nụ. Những người thường ngày mình vẫn gặp trong xóm phố, thường ngày vẫn cùng lam lũ sao hôm nay mới lạ, đáng yêu. Lại sướng nhất vẫn là trẻ nhỏ, chúng tha hồ được người lớn mừng tuổi, những đồng xu trĩu cả túi quần. Trai gái nô nức vui xuân. Đường xuân đi khiến người ta không còn nhớ đến giờ giấc, quên cả bữa ăn. Rượu men cỏ nhiều như nước khiến tâm hồn lúc nào cũng lâng lâng, bay bay. Khái niệm vui tết mới thật là đây. Nhưng vui chơi mãi, uống mãi cũng đến lúc mỏi chân, rỗng bụng. Đói chẳng cần về nhà sắp bữa, gặp đâu ăn đó. Những ngày tết nhà nào cũng nấu sẵn một nồi cháo gà nóng hổi, một nồi cơm đầy, bánh chưng sẵn đấy cứ bóc mà ăn. Lạp xường treo lủng lẳng gác bếp cứ tự cắt xuống mà nướng. Tết nay ai xông nhà mình đều là quý nhân. Nhà thực khách càng đông, năm mới làm ăn càng phát tài. Nhưng tết đến chủ nhà đâu chịu để khách nhạt miệng. Chặt ngay con gà nấu món canh gừng hạt dổi ăn cho lại sức. Chỉ nghe chủ nhân nói đến thế, thực khách đã bừng lên như cáo ăn đèn. Có thể nói đây là món ăn tuyệt ngon của quê tôi. Nó đứng vào hàng thứ mấy trong thế giới ẩm thực thì không biết, nhưng tôi dám chắc, đây là món ăn lạ và khoái khẩu nhất trần gian.
Món này dân Cô Sầu nhà nào cũng biết nấu, nhưng nấu ngon và cầu kỳ hấp dẫn không ai qua mặt được bếp Nhì. Bếp Nhì là bố thằng Nhiêu, bạn tôi. Tài nấu ăn của ông nức tiếng khu Việt Bắc. Ấy là năm 1962 ông đã đoạt giải vàng về món canh gà gừng hạt dổi. Món này tôi và lũ bạn từng được lão khoản đãi. Tết ấy thấy lão hăng hái vào bếp, tôi liền dè dặt đến ngó. Thấy tôi tò mò, lão cười và nói: - Cháu à, món gà nấu canh gừng hạt dổi nhất định phải là gà giò. Sau khi làm lông, bỏ ruột, rửa sạch, gà sẽ được chặt thành từng miếng vừa ăn. Trước khi chế biến ướp thịt gà với gừng già, hạt dổi giã nhỏ và rượu ngô trong khoảng mươi phút. Canh này nấu bằng chảo gang mới thơm hương, đậm vị. Chảo bắc lên bếp phải rực như đuốc. Chờ chảo nóng ran, sẽ cho chút mỡ vào. Thấy mén khói xanh ấy là mỡ đã già, sẽ cho thịt gà xuống đảo. Khi thấy da gà xoăn là thức ăn đã chín. Vừa mau mắn bày cách chế biến, lão vừa biểu diễn tài nghệ thị phạm cho tôi xem. Đôi tay lão lúc nâng lên, khi hạ xuống điệu nghệ như diễn trò tung hứng. Chiếc bàn xản chạm thành chảo vang coong keng, coong keng nhịp nhàng như khúc nhạc vui. Mùi thịt gà quyện hương rượu, gừng, hạt dổi thơm nức khiến miệng tôi ứa nước bọt. Nào đã được ăn ngay, chờ thêm chút nữa. Lão đang chuẩn bị thực hiện công đoạn cuối. Nghe tiếng mỡ ran trong chảo, lão cẩn thận chế nước cho ngập thức ăn, rồi đậy vung lại, chờ canh sôi. Có lẽ đây là đoạn quan trọng nhất làm nên món ăn đặc biệt này. Khi chảo canh sôi bùng, lão nhanh tay rót nửa ly rượu ngô, rưới vào. Cũng nhanh như lúc rưới rượu, lão lấy muôi gỗ múc thức ăn ra bát. Giờ mới là lúc thưởng thức. Mùi gừng, rượu, hạt dổi quyện với hương vị tuyệt hảo của thịt gà non hôi hổi bỗng lan khắp mọi ngõ ngách cơ thể. Cái giá lạnh trong thân ta, bên ngoài ta bỗng tan biến. Thay vào đó là cay nóng như lửa hồng, chăn ấm, như da thịt chồng vợ, người yêu với người yêu nồng nàn và thỏa thê. Còn nhớ mãi cảm giác lúc ấy, tôi thấy mình như được nâng khỏi mặt đất, bay bay, bay bay, trời xuân như rộng hơn, sáng hơn, sương mây chợt như đang tan dần trong nắng ấm.
Xuân đã lại đến. Sáng xuân nay gợi bao thương nhớ ngày xưa. Lòng lắng lại, và nhận ra, ngày xưa cùng với thiên nhiên lặng lẽ nhả nhựa, cựa mình đón xuân, thứ khởi đầu phút giây thiêng liêng để muôn nhà biết thời khắc dâng hương bái tổ cầu được sức khỏe, hạnh phúc, bình an, tài lộc hóa ra là tiếng gà gáy. Âm thanh cao quý và thiêng liêng đó còn ngân vang mãi tận bây giờ. Bây giờ không còn tiếng pháo nổ tống cựu nghênh tân. Bây giờ các loại đồng hồ to nhỏ đã thay thế tiếng gáy của con gà trống nhà lão Lâm. Lão Lâm đã thành người thiên cổ. Bạn tôi, Nông Văn Păn, con trai lão liệu có còn nuôi gà trống gáy? Tôi bỗng thấy nhớ nó, nhớ đất Cô Sầu, một vùng đất nằm phía đông tỉnh Cao Bằng, nhớ đến lão Nhì bố thằng Nhiêu, giờ lão đã trở về bên kia bầu trời, nhưng món canh gà gừng hạt dổi lão nấu vẫn còn day dứt mãi trong lòng. Bao năm rồi sống nơi thị thành mà vẫn chưa một lần trở lại cố hương. Tôi bỗng thèm được nghe tiếng gà gáy trong đêm tất niên, tiếng gáy ngân vang cong vút như cầu vồng bảy sắc nơi quê nhà.
Tận bây giờ tôi vẫn chưa hiểu, lão Lâm luyện cách nào mà đúng phút giao thừa gà nhà lão bao giờ cũng cất tiếng gáy đầu tiên. Tiếng gáy oai vệ như kèn lệnh làm họ hàng nhà gà tức nhau đập cánh râm ran.

Sưu tầm

Khám phá chốn thâm sơn kỳ tửu của người Dao ở Cao Bằng.



Nơi thâm sơn cùng cốc trong các bản làng của đồng bào người Dao đỏ ở Cao Bằng, rượu Báng được bà con nấu nhiều, nhất là vào dịp Tết Nguyên đán. Nguyên liệu để tạo ra loại sản phẩm này hoàn toàn bằng cây rừng.

Hằng năm, cứ vào những ngày cận tết, bà con đồng bào người Dao họ lại rủ nhau vào rừng tìm kiếm cây Báng để ủ rượu. Rượu Báng uống nhẹ, êm không đau đầu, nhà nào nấu ít cũng phải một đến hai trăm lít, nhiều là năm trăm lít. Để chưng cất loại rượu này cần phải có nhiều người giúp sức cùng rất nhiều các công đoạn phức tạp.
Kỳ bí loại rượu từ “lộc rừng”
Để khám phá loại kỳ tửu độc đáo này, chúng tôi đã tìm đến bản Lũng Cải, xã Hồng Nam, huyện Hòa An (Cao Bằng) bởi nơi đây họ đang lưu giữ một bí kíp tuyệt mật về rượu Báng.
Bản Lũng Cải là những ngôi nhà sàn nằm sâu trong một thung lũng nhỏ. Nơi đây được mệnh danh là vùng núi trù phú của rượu Báng, bởi cây Báng mọc rất nhiều dễ tìm kiếm, và cũng rất dễ khai thác.
Hằng năm cứ vào những ngày cận Tết, bà con đồng bào Dao họ lại giúp nhau cùng chưng cất rượu Báng. Trong những ngày này, không khí nấu rượu của bà con càng trở nên đông vui nhộn nhịp.
Có lẽ trên những bản làng nơi thâm sơn cùng cốc này, rượu luôn là thứ để người ta gần gũi nhau hơn. Bởi mỗi khi có khách đến nhà, rượu không thể không thiếu trong những cuộc chuyện.
Kham pha chon tham son ky tuu cua nguoi Dao o Cao Bang
Người dân chọn nước sạch trong khe núi để nấu rượu.
Biết chúng tôi muốn tìm hiểu về bí kíp nấu rượu của dân tộc, anh Trịnh Văn Trường - Bí thư Chi bộ của bản liền lấy chai rượu Báng được ủ từ Tết năm ngoái mang ra mời khách. Trong không gian của ngôi nhà sàn, anh Trường bắt đầu bật mí những bí kíp nấu rượu của cha ông cho chúng tôi nghe.
Theo anh Trường, bí kíp nấu rượu được cha ông truyền lại từ ngày xưa, lúc anh Trường lớn lên đã thấy các cụ nấu loại rượu này rồi. Trong những ngày cận Tết, mỗi nhà một cây Báng to, và họ phải chia ra thành nhiều mẻ, mỗi một mẻ có thể lấy được vài chục lít rượu. Tính ra, nếu một cây Báng to cũng phải lấy được cả trăm lít rượu, họ uống cho cả một năm trời.
Anh Trường cho biết: “Cây Báng là một loại cây họ dừa, lá của nó to và dài, thân tròn và nặng, gần giống với cây móc, chiều cao trung bình trên 10 mét, nên mỗi khi chưng cất rượu, cần phải có nhiều người mới khai thác được”.
Theo anh Trường, cây Báng chứa rất nhiều tinh bột, có thể làm bánh để ăn. Bột cây Báng tựa như bột ngô, bột sắn, những năm đói kém mất mùa, các cụ thường lấy bột này ăn thay cho cơm nên đây còn được gọi là cây cứu đói, nuôi dưỡng đồng bào dân tộc. Nạn đói năm 1945 cũng nhờ có bột cây Báng nên đồng bào dân tộc Dao mới sống được.
Kham pha chon tham son ky tuu cua nguoi Dao o Cao Bang
Chiếc chảo đặt lên trên, sau đó đổ nước lạnh vào cho rượu ngưng tụ
Chưng cất rượu cũng lắm công phu
Vào những ngày này, không khí xuân đang tràn ngập trên các bản làng vùng cao, và rượu không thể không thiếu trong mỗi hộ gia đình. Rượu Báng được người dân ở bản Lũng Cải nấu nhiều. Tuy nhiên để có những giọt rượu ngon cũng không hề đơn giản, vì phải trải qua rất nhiều công đoạn phức tạp.
Cách chưng cất rượu Báng không giống như rượu ngô rượu sắn, bởi khâu chuẩn bị phải mất cả nửa tháng trời, nhất là công đoạn lên men, bởi nó sẽ quyết định đến chất lượng rượu sau này.
Khi đã có nguyên liệu là những thân cây Báng, đồng bào sẽ dùng rìu loại bỏ phần vỏ phía ngoài, chỉ lấy phần thịt có chứa tinh bột ở phía trong để ủ rượu.
Anh Trường cho biết thêm: “Mình phải bổ đôi lõi cây ra, chặt nhỏ thành từng miếng, đập nhuyễn rồi đồ trong vòng 40 phút. Sau khi đồ chín để nguội, mình mới rắc men để ủ, khi nào thấy nóng mới chôn xuống đất để ủ tiếp”. Cũng theo anh Trường, công đoạn ủ men ở dưới hố rất quan trọng, bởi nó sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của rượu.
Kham pha chon tham son ky tuu cua nguoi Dao o Cao Bang
Những giọt rượu Báng thơm lừng bắt đầu được chắt ra.
Tùy theo thời tiết, nếu trời nóng quá trình lên men sẽ là 7 ngày, trời lạnh sẽ mất khoảng 9 đến 10 ngày. Theo kinh nghiệm của các cụ truyền lại, tùy theo số lượng nguyên liệu nhiều hay ít, sau đó người ta sẽ đào một cái hố sâu khoảng 1,5 đến 2 mét để ủ rượu. Việc ủ rượu được tiến hành ở trong rừng, hoặc cũng có thể mang về nhà. Mình chỉ cần cho vào một cái bạt rồi chôn xuống đất lấp kín lại là được.
Sau khi ủ đủ số ngày, mùi thơm đậm đà của men rượu Báng sẽ bay đi khắp rừng, báo hiệu cho những mẻ rượu ngon. Về quy trình nấu rượu, thông thường họ sẽ phải lấy những thanh gỗ có chiều dài khoảng 50cm ghép thành một vòng tròn rồi đặt lên một cái chảo lớn.
Sau khi xoắn chặt vòng lạt buộc, người dân sẽ đổ từng mẻ nguyên liệu đã được ủ men vào bên trong thùng gỗ để nấu. Nguyên tắc của những mảnh gỗ này là phải khép chặt không được thoát hơi nước ra ngoài. Nhờ có chảo nước lạnh ở trên cùng, những giọt rượu sẽ được ngưng tụ và tự nó rơi xuống máng.
Theo kinh nghiệm, nguồn nước để cho rượu ngưng tụ phải là nguồn nước sạch lấy từ trong khe núi. Để có những mẻ rượu thơm không bị khê họ phải đun nhỏ lửa, phải thay nước liên tục. Sau 1,5 giờ đồng hồ, những giọt rượu đầu tiên có nồng độ rất cao, tưởng cháy cổ nhưng rất êm dịu. Rượu sẽ được đựng vào can, khi nào thấy nhạt mới thay mẻ khác.
Việc chưng cất rượu Báng đã trở thành thông lệ mang tính tập thể cộng đồng. Hằng năm, cứ gần đến ngày tết, mỗi nhà một người, họ thường đổi ngày công lao động cho nhau cùng đi cất rượu Báng. Tính tập thể thông qua những buổi nấu rượu càng trở nên ấm nồng. Và rồi trên những bản làng vùng cao này, họ sẽ đón một cái tết mang những vẻ đẹp riêng, giàu giá trị văn hóa của nền ẩm thực dân tộc.
Minh Phượng/Theo CSTC