Thứ Hai, 9 tháng 1, 2017

Nguồn nước sinh hoạt đen kịt và bốc mùi hôi tanh, nghi do trang trại lợn

Từ nhiều tháng nay, hàng chục hộ dân xóm Cốc Coóc, xã Chí Thảo (huyện Quảng Uyên, Cao Bằng) sống trong cảnh thiếu nước sinh hoạt bởi các giếng, mỏ nước (mạch nước chảy ra từ các hốc đá) trên địa bàn bị ô nhiễm nghiêm trọng.

Nhà nằm sát mỏ nước ngầm, gia đình chị Ma Thị Bay là hộ đầu tiên của xóm Cốc Coóc phát hiện ra mỏ nước sinh hoạt chính của xóm có màu đen và bốc mùi hôi thối khó chịu.

Theo chị Bay, trước đây mỏ nước trong vắt, gia đình chị cùng người dân vẫn dùng trong sinh hoạt thường xuyên từ nhiều năm nay, kể cả những năm hạn hán nặng nề nhất. Tuy nhiên, từ đầu tháng 10/2016 đến nay, mạch nước bắt đầu xuất hiện màu đục, sau đó chuyển dần sang màu đen, có mùi hôi tanh, ruồi bâu.

Ông Ma Kiên Chiều - một người dân ở xóm Cốc Coóc cho biết, gia đình ông có giếng dùng chung với 8 hộ khác. Vài tháng trở lại đây, giếng bắt đầu xuất hiện mùi hôi thối, có bọ trong nguồn nước nên người dân không dám sử dụng. Trước mắt, ông cùng 5 hộ dân khác đã góp mỗi hộ khoảng 4 triệu đồng để xây bể chứa nước và mua đường ống dẫn nước từ mỏ nước sạch cách xóm 1,2 km về dùng.

Người dân ở đây cho biết, ban đầu tình trạng nước đục bẩn chỉ xuất hiện ở giếng của một vài hộ dân, sau đó lan rộng ra cả xóm, ngay cả giếng nước của trường tiểu học, trường trung học cơ sở trên địa bàn cũng xuất hiện váng, có mùi hôi. Ao nuôi cá của một số hộ trong xóm, nước cũng nhuốm một màu đen kịt, nhiều cá chết nổi trên mặt ao.

Theo ông Ma Kiên Tướng, trưởng xóm Cốc Coóc, trước đây nguồn nước sạch sẽ, người dân sử dụng bình thường. Nay nguồn nước bị nhiễm bẩn, đen xì, bốc mùi hôi thối nên hằng ngày các hộ dân trong xóm Cốc Coóc phải trông chờ vào nguồn nước mưa hoặc đi xách từng can nước từ xóm khác mang về sử dụng.

Ông Trần Hồng Sao, Bí thư Chi bộ xóm Cốc Coóc cho biết, trong xóm có một trang trại chăn nuôi lợn, từ khi trang trại đi vào hoạt động, hiện tượng nước bẩn bắt đầu xảy ra. Xã và các cơ quan chức năng ở huyện Quảng Uyên đã xuống kiểm tra và lấy mẫu nước đi xét nghiệm, nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả.

Người dân Cốc Coóc mong muốn các cơ quan chức năng khẩn trương tìm hiểu rõ nguyên nhân ô nhiễm và hỗ trợ người dân khắc phục tình trạng thiếu nước sinh hoạt.
Q.T (TTXV
N

Xã cuối cùng của tỉnh Cao Bằng có điện lưới quốc gia


T

Ngày 7/1, tỉnh Cao Bằng tổ chức Lễ đóng điện tại xã Sơn Lập, huyện Bảo Lạc. Đây là xã cuối cùng của tỉnh Cao Bằng có điện lưới quốc gia.

Công nhân điện lực lắp đặt các thiết bị dân dụng cho các hộ dân.
Xã Sơn Lập nằm ở phía Nam huyện Bảo Lạc, cách thành phố Cao Bằng 140km. Xã có diện tích hơn 4.000 ha; địa hình bị chia cắt bởi nhiều núi đá cao. Dân cư chủ yếu là đồng bào dân tộc Mông, Dao, Tày, Nùng... Mặt bằng dân trí còn thấp, phong tục tập quán lạc hậu. Hầu hết các hộ dân trong xã đều thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo.

Nhận thấy sự cần thiết phải có điện lưới quốc gia để thúc đẩy kinh tế - xã hội của xã Sơn Lập, nâng cao nhận thức về văn hóa, chính trị - xã hội của nhân dân, tỉnh Cao Bằng đã đề nghị Tổng công ty Điện lực miền Bắc đầu tư dự án Đưa điện về xã Sơn Lập, huyện Bảo Lạc.

Quy mô công trình xây dựng gồm: 6,738 km đường dây trung thế 35KV; 3 trạm biến áp với tổng công suất là 300kVA; 9,379 km đường dây hạ thế. Tổng mức đầu tư xây dựng công trình là 23,83 tỷ đồng.

Dự án đưa điện lưới quốc gia về xã Sơn Lập có ý nghĩa to lớn, thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, tỉnh Cao Bằng và của ngành điện đối với đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
Tin, ảnh: Chu Hiệu (TTXVN
)

Thứ Tư, 4 tháng 1, 2017

Con trai Hiếu Lễ - Người “kê cao” quê hương


Cuối tháng 12/1948, khi âm vang khẩu súng Sàng là của cụ lão du kích Hứa Văn Khải, ở làng Hiếu Lễ, xã Lăng Hiếu (Trùng Khánh) vẫn còn làm kinh hồn quân xâm lược Pháp tại đèo Liêu thì cũng tại làng Hiếu Lễ của dòng họ Hứa này có đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời. Để rồi 30 năm sau, khi nước nhà thống nhất thì anh rời quân ngũ “vội vàng về quê cưới vợ”, đó là Hứa Vĩnh Sước - Nhà thơ Y Phương.

    Năm 1968, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn cam go, quyết liệt, cũng như bao người con khác của quê hương Trùng Khánh, chàng trai Hứa Vĩnh Sước tình nguyện lên đường cứu nước. Là chiến sỹ của đơn vị đặc công, với nỗi nhớ quê hương da diết, sự cực nhọc rèn luyện của bộ đội đặc công thì những câu thơ giản dị nảy mầm và đâm chồi trong tâm hồn người chiến sỹ trẻ Hứa Vĩnh Sước. Bắt đầu từ đấy anh làm thơ, đến bây giờ anh đứng thứ 823 trong danh sách các nhà thơ nổi tiếng.
    Năm 1981, anh chuyển về công tác ở Sở Văn hóa - Thông tin Cao Bằng, cũng từ đây thơ anh phát tiết mạnh mẽ với một tâm hồn chân thật, trong sáng, với cách tư duy giàu hình ảnh mang đậm đặc trưng của người Tày Trùng Khánh. Thơ anh mộc mạc, giản dị xuất phát từ tình cảm gia đình mở rộng ra tình yêu quê hương, đất nước. Từ những kỷ niệm gần gũi, thiết tha qua lăng kính nhà thơ với lối dẫn dắt tự nhiên, có tầm khái quát cao, độc đáo mà nâng lên thành lẽ sống, thành tâm hồn dân tộc. Vừa làm vừa học, anh theo học và tốt nghiệp Trường Sân khấu Điện ảnh Việt Nam và Trường Viết văn Nguyễn Du. Đến nay, nhà thơ Y Phương đã cho ra đời những “đứa con tâm hồn” của mình như: Nói với con, Người núi hoa (1982), Tiếng hát tháng Giêng (1986), Đàn Then (1996), Lửa hồng một góc (1987), Lời chúc (1991), Chín tháng (trường ca 1998), Thơ Y Phương (2002), Thất tàng lồm (Ngược gió, song ngữ Tày - Việt 2006). Thơ anh đoạt các giải cao ở địa phương và Trung ương, đặc biệt là giải A cuộc thi thơ Tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1984 với bài thơ Tiếng hát tháng Giêng và Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007.
    Thơ Y Phương giản dị mà đằm thắm, gần gũi mà sâu xa. Anh giới thiệu về mình bằng thơ rất tự nhiên và giản dị: "Con là con trai của mẹ/Người đàn ông ở làng Hiếu Lễ/Ba mươi tuổi từ mặt trận trở về/Vội vàng cưới vợ”. Nói đến những sáng tác của nhà thơ Y Phương, không ai không nhớ đến bài thơ “Nói với con” được in trong sách giáo khoa: “... Người đồng mình thương lắm con ơi/Cao đo nỗi buồn/Xa nuôi chí lớn/Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn/Sống trên đá không chê đá gập ghềnh/Sống trong thung không chê thung nghèo đói/Sống như sông như suối/Lên thác xuống ghềnh/Không lo cực nhọc...”. “Người đồng mình” mộc mạc, giản dị, chăm chỉ làm ăn tất bật với công việc đồng áng quanh năm ở nơi đầy khó khăn, vất vả nhưng không chê “đá gập ghềnh”, “không chê thung nghèo đói”. Nhà thơ nói với con cũng chính nhằm nhắn nhủ, gửi gắm một triết lý sống là không bao giờ được từ bỏ và gục ngã trước những khó khăn của cuộc đời, gieo vào lòng người đọc nghĩa tình sâu nặng với quê hương đất mẹ. "Người đồng mình thô sơ da thịt/Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con/Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương/Còn quê hương thì làm nên phong tục”. 
    Tác giả khẳng định với con cũng như người đọc rằng những người dân ở đây, người con của quê hương Trùng Khánh luôn lớn mạnh, hừng hực khí thế khắc phục mọi khó khăn gian khổ để xây dựng cuộc sống, quê hương ngày càng giàu đẹp “tự đục đá kê cao quê hương”. Lẽ sống “Con không chê cha mẹ khó” ám ảnh nhà thơ để rồi những sáng tác của anh được đẩy lên thành tình yêu quê hương, nơi mình được sinh ra, dù nơi ấy nghèo khó đến thế nào. Sự yêu thương gắn bó với quê hương gian khó là cội nguồn của tất cả mọi thành công. Những người con của quê hương Trùng Khánh đời nào cũng vậy, không những chăm chỉ, chịu thương chịu khó mà còn có chí lớn: “Cao đo nỗi buồn/Xa nuôi chí lớn” để “kê cao quê hương”. Nhà thơ nhắn nhủ với con điều này mong con mình mai sau cần kế thừa và phát huy đức tính tốt đẹp của ông cha. Đó là nghị lực phi thường của “người đồng mình” không chùn bước trước gian nan vất vả, luôn vị tha, nâng niu và trân trọng những gì mình có. Nhà thơ nói “người đồng mình” ở đây chính là những người con của làng Hiếu Lễ, những người con của quê hương Trùng Khánh đời nào cũng hiếu lễ với cha mẹ, với quê hương, đất nước mà chăm sóc, nâng niu, gìn giữ muôn đời.
    Nhớ đầu tháng 4/2003, nhà thơ Y Phương và tôi được Hội Nhà văn Việt Nam mời tham gia Trại sáng tác tại Điện Biên 15 ngày để chuẩn bị tư liệu viết cho dịp kỷ niệm 50 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ. Trước khi đi, tôi có dịp vào thăm anh ở Hà Nội vì lúc này anh đang công tác ở Hội Nhà văn Việt Nam. Bữa cơm chiều quây quần ấm cúng quanh mâm trúc giữa lòng thủ đô Hà Nội của nhà họ Hứa, nghe anh nói chuyện với vợ, với con, với tôi đều bằng tiếng Tày làm lòng tôi trào dâng tính tự tôn dân tộc. Rồi anh cười hì hì: nhẻn răng dè, phuối phan nhằng phuối khóp thiên hạ, phuối Tày dú thầư bấu đáy dè (xấu hổ gì, tiếng Anh, tiếng Pháp nói khắp thiên hạ, nói tiếng Tày ở đâu mà chẳng được). Trời ạ! Anh đã dạy tôi một bài học nhớ đời, từ đấy đến giờ mỗi khi gặp anh, hay gọi điện cho anh tôi không dám nói bằng tiếng Việt với anh nữa mà chỉ nói tiếng Tày. Nhà thơ Y Phương dù ở đâu, công tác trong lĩnh vực nào không những luôn ý thức “kê cao quê hương” mà còn “kê cao tiếng Tày”, “kê cao thơ Tày”, thơ mình ngang tầm quốc tế, hiện đại mà dân tộc. 
    Sau 15 ngày dự trại sáng tác tại Điện Biên, trước khi về, nhà thơ Hữu Thỉnh có nói với nhà thơ Y Phương: Y Phương này, mua vé máy bay cho Bốn cùng anh em mình về Hà Nội với. Anh nhận lời nhà thơ Hữu Thỉnh, nhưng vì tôi chỉ có thẻ hội viên, không mang theo chứng minh thư nên không mua được vé máy bay. Nhà thơ Hữu Thỉnh nói: Thôi, Bốn thông cảm vậy, khi khác nhé, Y Phương đưa tiền tàu xe cho Bốn. Y Phương mở ví lấy cho tôi 500 nghìn đồng cười hì hì nói bằng tiếng Tày: phjai kha câu tú nhằng mừa thâng ơ! (Đi bộ tớ còn về đến được). Thật là triết lý, về quê hương thì cần gì phải đi bằng máy bay, đi bộ còn được. Đó là ý chí, là sự kiên trì vượt khó khăn gian khổ luôn ăn sâu, ám ảnh nhà thơ mỗi khi nghĩ về quê hương đất mẹ.
    Vậy đấy! Y Phương là thế! Những người con của làng Hiếu Lễ, những người con của quê hương Trùng Khánh dù sinh cơ lập nghiệp nơi nào cũng luôn hướng về quê, về nơi chôn nhau cắt rốn, góp phần “kê cao” quê hương Trùng Khánh ngang tầm các huyện bạn để Trùng Khánh đủ sức, đủ lực, đủ mạnh làm phên dậu vững chắc cho đất Việt muôn đời.     
    Mông Văn Bốn

    Đặc sản Phặc Moong: Niềm tự hào của người Cao Bằng

    Nhắc đến huyện Thạch An, người ta không thể không nhắc tới món bí với hương vị thơm mát đặc trưng. Bí Hương tiếng Tày gọi là Phặc Moong, có nghĩa là bí phấn - là đặc sản nổi tiếng của huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.

    Người miền núi Cao Bằng ăn đời ở kiếp với núi rừng linh thiêng .Núi rừng ban cho con người nơi đây không chỉ thiên nhiên hữu tình mà còn rất nhiều đặc sản thơm ngon và bí hương Thạch An là một trong những món quà tuyệt vời ấy.
     dac san phac moong: niem tu hao cua nguoi cao bang hinh anh 1
    Vườn bí xanh tại thị trấn Đông Khê, huyện Thạch An, Cao Bằng . Ảnh: An Anh
    Gọi là bí hương vì bí có hương thoang thoảng của lúa non, có vị bùi, ngọt, dẻo dẻo của lúa nếp, có vị thanh mát, dịu dịu của suối nguồn mà ai ngửi rồi cứ muốn ngửi mãi, ai ăn thử rồi cứ muốn ăn thêm miếng nữa, khó lòng dứt ra được.
    Người dân ở đây không biết bí hương được trồng từ khi nào, chỉ biết rằng từ khi thành lập làng, bí đã được trồng ở đây. Rồi từ đời này qua đời khác, từ vụ này sang vụ khác, khi bí ra quả, người dân ở đây chọn những quả bí đầu tiên nhất trong giàn, những quả thon đều, đẹp, nặng tay, phủ nhiều phấn để làm giống.
    Hiện nay Bí hương được gần 100 hộ dân người dân tộc Tày, Nùng thuộc 2 xóm Nà Sloỏng và Lũng Buốt, xã Lê Lai, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng trồng trên vùng đất có độ cao trung bình khoảng 800m so với mực nước biển với khí hậu mát mẻ quanh năm. Quả Bí hương Cao Bằng nhỏ, thon, dài khoảng 20-30cm, đường kính khoảng 10cm, vỏ cứng, thịt bí có màu xanh phớt, toàn bộ thân, hoa, lá có mùi thơm đặc trưng.
    Khác với giống bí đao thông thường có hình dạng thuôn dài, vỏ mỏng, bí hương Thạch An có dáng quả thon nhỏ, vỏ dày và cứng, trọng lượng trung bình khoảng 1,5 – 2kg/quả, chiều dài trung bình của bí hương Thạch An khoảng 20 - 30 cm, đường kính khoảng 10-20 cm. Toàn bộ thân, hoa, lá và quả của bí hương đều có mùi thơm đặc trưng. Khi chế biến, bí đao thông thường có màu xanh thẫm, trong khi bí hương có màu xanh phớt, có độ dẻo và có mùi thơm đặc trưng có thể phân biệt bí hương Thạch An qua mùi vị và hình dáng bên ngoài.
    Thời gian từ khi trồng đến khi thu hoạch khoảng 4 tháng sẽ được cắt vào buổi sáng, để cả cuống, được bọc báo cẩn thận và vận chuyển về nhà và xếp cẩn thận nơi thoáng mát. Đến thời điểm thu hoạch, bí có vỏ màu xanh đậm hoặc xanh phủ phấn trắng, thịt quả đặc, có màu xanh phớt.
    Các nghiên cứu gần đây cho thấy hàm lượng natri trong bí rất thấp nên có tác dụng trị liệu cho những người mắc các chứng bệnh như: Xơ cứng động mạch, tiểu đường, bệnh động mạch vành tim, viêm thận, phù thũng, bệnh cao huyết áp và béo phì.
    Ngoài ra, bí hương còn được xem là một trong những loại thuốc có tác dụng chữa được nhiều bệnh như hen suyễn, ho gà, ngộ độc, ung thư họng, ung nhọt, thanh nhiệt làm mát ruột, giúp da đẹp, dáng thon.
    Theo y học cổ truyền, bí vị ngọt nhạt, tính mát, có công dụng thanh nhiệt, giải nhiệt và làm tan đờm, làm mát ruột và hết khát, lợi tiểu, làm hết phù, giải độc và giảm béo. Thường được dùng để chữa các chứng bệnh lý hô hấp có ho và khạc đờm do nhiệt, bệnh đái đường, phù do bệnh thận, bệnh gan, phù khi mang thai…
    Bí hương Thạch An có hương vị tinh tế, làm nên sức hút đầy lôi cuốn không thể chối từ đối với các du khách khi đến Thạch An, Cao Bằng. Mọi khó chịu mệt mỏi dường như được xóa tan khi được nhấp thử một miếng bí thanh mát.
    Theo Thanh Tuyền (TTXTTMNNHN)

    Truy tặng và trao tặng các danh hiệu vinh dự Nhà nướcThứ Tư, 21/12/2016 

    Ngày 21/12, tại tỉnh Cao Bằng  đã tổ chức trọng thể Lễ truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng” và trao tặng các danh hiệu vinh dự Nhà nước. Cùng ngày, UBND tỉnh Cao Bằng tổ chức Lễ phong tặng và truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” cho 70 mẹ; trao tặng khen thưởng cấp Nhà nước năm 2016.


    Phát biểu tại buổi lễ, ông Hoàng Xuân Ánh, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng khẳng định, đây là phần thưởng cao quý thể hiện sự tri ân trước sự hy sinh mất mát của các mẹ có chồng, con tham gia kháng chiến.
    Ông Hoàng Xuân Ánh, Chủ tịch tỉnh Cao Bằng truy tặng danh hiệu "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" cho thân nhân các mẹ. 
    Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng Hoàng Xuân Ánh nhấn mạnh: Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã thực hiện nhiều chính sách thiết thực để ghi nhận công lao của các mẹ, các thương bệnh binh, liệt sỹ đối với Tổ quốc. 

    Trong thời gian tới, Cao Bằng sẽ tiếp tục rà soát, khẩn trương hướng dẫn các gia đình làm hồ sơ; đồng thời tích cực thực hiện tốt hơn nữa chính sách đền ơn đáp nghĩa đối với các đối tượng chính sách.

    Về khen thưởng cấp Nhà nước năm 2016, tỉnh Cao Bằng có 68 tập thể, cá nhân vinh dự được khen thưởng. Tại buổi lễ, t hừa ủy quyền của Chủ tịch nước, Thủ tướng chính phủ, ông Hoàng Xuân Ánh Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã trao 3 Huân chương Lao động hạng Ba của Chủ tịch nước cho ba cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác bầu cử; 

    trao Cờ thi đua của Chính phủ cho 2 tập thể; 31 tập thể, cá nhân được tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ vì đã có thành tích xuất sắc trong công tác bầu cử, lao động sản xuất...


    Trung Kiên, Quân Trang (TTXVN)